NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ THẬP THỦ ĐẠO Ở VIỆT NAM

143 lượt xem

Sự phát triển Thập Thủ Đạo ở Việt Nam gắn liền với lương y Huỳnh Thị Lịch, nên chúng ta sẽ tìm hiểu cuộc đời bà để hình dung rõ hơn về giải pháp bà tạo ra. I. HUYỀN THOẠI “THẦN Y”  NUÔI & TRỊ BỆNH 5 “QUÁI THAI” Các học trò của bà Lịch […]

Sự phát triển Thập Thủ Đạo ở Việt Nam gắn liền với lương y Huỳnh Thị Lịch, nên chúng ta sẽ tìm hiểu cuộc đời bà để hình dung rõ hơn về giải pháp bà tạo ra.

I. HUYỀN THOẠI “THẦN Y”  NUÔI & TRỊ BỆNH 5 “QUÁI THAI”

Các học trò của bà Lịch thường kể chuyện bà luyện được công năng đặc dị của môn bấm huyệt Thập Thủ Đạo bởi vị đạo sĩ người gốc Pakistan ẩn tu ở Ấn Độ. Câu chuyện này chưa ai khẳng định chính xác, vì lương y Huỳnh Thị Lịch rất ít khi kể về mình. Sau thời gian ở Ấn độ, vào khoảng cuối những năm 60, bà tìm đường về Việt Nam. Không con cái, không người thân, bà Lịch đã vào bệnh viện Từ Dũ để kiếm một đứa trẻ bị bỏ rơi về nuôi dưỡng. Vào bệnh viện, thấy có rất nhiều cháu bé dị tật bẩm sinh, mà thời kỳ đó gọi là “quái thai”, bị các bà mẹ bỏ rơi, bà Lịch động lòng thương xót. Bà đã nảy ra ý tưởng sử dụng khả năng bấm huyệt của mình để điều trị cho các bé tật nguyền. Nghĩ là làm, bà liền xin 5 bé “quái thai” về nhà nuôi dưỡng.

Đưa 5 cháu bé dị tật về nhà, bà Lịch ra sức bấm huyệt trị bệnh. Điều kinh ngạc đã xảy ra, cháu bé điếc thì nghe được, câm thì nói được, khoèo tay, khoèo chân thì đứng dậy lẫm chẫm đi. Cả 5 “quái thai” bị bỏ rơi ngày nào đều trở thành những đứa trẻ bình thường. Sự việc bà Lịch bấm huyệt chữa khỏi cho 5 “quái thai” bị dị tật bẩm sinh, là sự kiện chấn động thời bấy giờ. Hàng trăm, hàng ngàn người ùn ùn kéo đến diện kiến “thần y bấm huyệt”, những mong được khỏi bệnh.

Việc một người phụ nữ đơn thân bỗng thành “thần y”, nổi như cồn, khiến chính quyền Sài Gòn thời ấy quan tâm. Thời đó, họ chỉ tin vào Tây y, nên phương pháp bấm huyệt trị bệnh của bà Lịch là thứ thần bí, thậm chí được liệt vào hiện tượng dị đoan. Chính quyền Sài Gòn đã điều các bác sĩ, các nhà khoa học đến nhà bà, trực tiếp kiểm tra khả năng trị bệnh của bà. Thế nhưng, trước mắt các nhà khoa học, hàng chục bệnh nhân đã khỏi bệnh một cách thần kỳ. Có cháu bé sinh ra đã điếc lác, chỉ sau vài phút bấm huyệt, cháu bé đã nghe được tiếng gọi của mẹ, có người mấy chục năm trời câm, bỗng nói tròn vành rõ tiếng. Không tin vào những bệnh nhân đến nhà, họ đã tự chọn bệnh nhân đưa đến cho bà kiểm nghiệm. Bà xem xét bệnh tình, xác định bệnh nhân nào trị được, thì tiến hành thử nghiệm. Có người ngồi xe lăn, bỗng vịn tay đứng lên lò dò tập đi, người liệt tay thì nhấc lên nhấc xuống. Có người bị mù, sau một lúc bấm huyệt, thì lờ mờ nhìn thấy mọi thứ xung quanh… Thậm chí, có trường hợp một bệnh nhân bí tiểu, phải đưa đi cấp cứu bằng xe xích lô, bà chỉ bấm vài cái, nước tiểu cứ thế chảy tràn ra ngay tại xe…

Mặc dù chính quyền Sài Gòn không quan tâm đến những thành quả của bà Lịch, nhưng trái lại bà lại được các nhà khoa học ủng hộ. Không chỉ có khả năng trị bệnh thần kỳ, mà bà còn là người không ham danh lợi. Mặc dù có rất đông bệnh nhân, song bà không lấy tiền của ai. Bệnh nhân nào khá giả, tự nguyện bỏ tiền từ thiện. Bà dùng tiền từ thiện để tặng lại bệnh nhân nghèo. Bà thường xuyên đi làm từ thiện với nghệ sĩ Phùng Há.

Chính quyền Sài Gòn lúc ấy vẫn để bà tiếp tục trị bệnh mặc dù bà không có đầy đủ giấy phép hành nghề.

  1. “THẦN Y BÍ ẨN” DẦN DẦN BƯỚC RA ÁNH SÁNG

Hồi miền Nam mới giải phóng, bà Lịch vào Bệnh viện 175 điều trị bệnh sỏi mật và sỏi bàng quang. Trong quá trình chờ điều trị, bà đi dạo trong khuôn viên bệnh viện. Bà thấy trong khuôn viên có nhiều bệnh nhân chống nạng tập đi. Mỗi người một hoàn cảnh, người tai biến, người tai nạn, người dị tật bẩm sinh…

Gặp ai, bà cũng hỏi han, xem xét tình trạng bệnh tật. Thấy bệnh nhân nào phù hợp với bấm huyệt, bà lập tức điều trị cho họ ngay trên ghế đá trong khuôn viên bệnh viện. Không ít bệnh nhân đã bỏ nạng tập đi, hoặc đang câm bỗng bật nói khiến người nhà tưởng bị ma ám. Việc người bệnh kéo ra tụ tập kín khuôn viên bệnh viện để bà Huỳnh Thị Lịch bấm huyệt khiến các bác sĩ để ý. Một cô y tá tên là Ngọc, bị bướu cổ khá nặng, đã nhờ bà bấm huyệt. Không ngờ, chỉ vài lần bấm huyệt, mà cái bướu đã xẹp đi.

Quá kinh ngạc với chuyện bấm huyệt trị bệnh, lãnh đạo bệnh viện này đã kết hợp với các chuyên gia của bệnh viện Thống Nhất lập hội thảo “tranh cãi” về khả năng bấm huyệt trị bệnh của bà Huỳnh Thị Lịch. Sau cuộc hội thảo đó, tuy còn nhiều ý kiến trái chiều, song danh tiếng nữ lương y với cách trị bệnh kỳ lạ khi đó càng nổi danh hơn. Một vị cán bộ lãnh đạo công an tỉnh Tiền Giang đã tìm đến bà nhờ trị bệnh.

Ông này bị teo một ngón tay, đã được bà bấm huyệt khỏi, nên rất cảm phục khả năng chữa bệnh của bà. Ông đã mời bà về Tiền Giang làm việc (1983) trong một bệnh viện Y học Cổ truyền; thời gian này bác sĩ Hoàng Vĩnh Bảo là giám đốc Sở Y tế, chủ tịch tỉnh hội YHDT Tiền Giang.

Làm việc ở Tiền Giang một thời gian, thì Bộ Nội vụ (Bộ Công an sau này) đã cử cán bộ vào nghiên cứu về khả năng bấm huyệt của bà Lịch. Bà đã thử tài bấm huyệt cho các cán bộ của Bộ Nội vụ chứng kiến. Mấy cán bộ công an được bà bấm huyệt đã ngủ ly bì, gọi kiểu gì cũng không dậy. Chỉ đến khi bà bấm huyệt cho tỉnh dậy thì mới mở được mắt ra.

Biết khả năng bấm huyệt của bà Lịch là thần kỳ, Bộ Nội vụ đã chỉ đạo công an Tiền Giang giúp đỡ bà mở trung tâm trị bệnh miễn phí, dạy nghề bấm huyệt. Công an tỉnh còn cử một cán bộ công an, là trung tá Năm Liên hỗ trợ bà Lịch trong việc trị bệnh. Ngoài ra, còn có trung tá bác sĩ Hồ Kiên sưu tầm tài liệu, viết lại các phương pháp trị bệnh của bà trong một tập sách mỏng.

Ông Tư Nguyện, khi đó là Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su, bị bệnh Parkinson khá nặng. Được sự giới thiệu của một cán bộ công an, ông đã về Tiền Giang gặp bà Lịch để được trị bệnh. Bệnh tình tiến triển tốt, ông liền xin bà về Tổng cục Cao su. Ông Tư Nguyện đã cấp cho bà căn biệt thự rất lớn, vốn là nhà của nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, bỏ hoang sau giải phóng, để bà có không gian đủ rộng, trị bệnh cứu người được thuận tiện hơn. Tại căn biệt thự này, bà Lịch chuyên tâm bấm huyệt cứu người, truyền dạy phương pháp bấm huyệt cho rất nhiều học trò. Sau này, khi Nhà nước lấy lại căn biệt thự, Hội Phật giáo đã tìm cho bà căn nhà nhỏ ở cư xá Văn Thánh, để bà tiếp tục công việc bấm huyệt trị bệnh miễn phí cho đến khi qua đời.

2. BÍ ẨN CÁ NHÂN CỦA “THẦN Y BẤM HUYỆT”

Khi bà mất đi rồi, không ai học được hết bí kíp của bà, nên tên tuổi bà cũng vì thế mà bị người đời quên lãng. Bà có nhiều học trò lắm, nhưng mỗi người chỉ học được vài món, trị được vài bệnh mà thôi. Hồi đó, hàng trăm bệnh nhân xếp hàng ở nơi bà cư ngụ đợi đến lượt được bà bấm huyệt trị bệnh. Người nào đến gặp bà cũng trọng bệnh, người câm, người điếc, người bại liệt, teo cơ, bướu cổ…

Có người bệnh liệt do tai biến kể: “Chờ đợi cả buổi rồi tôi cũng được gặp bà. Bà chỉ nhìn tôi rồi bảo bệnh nặng lắm, phải điều trị rất lâu, rất nhiều công sức. Lúc đó tôi nói khó nghe lắm, giọng cứ ứ trong cổ, thốt mãi chẳng ra lời. Thế mà bà bấm một lúc, tôi bỗng thấy nhẹ cả người, nói năng lưu loát hơn. Lúc đó thì tôi có niềm tin vào bà lắm. Sau hôm đó, ngày nào người nhà cũng đưa tôi đến để bà bấm huyệt cho. Chừng nửa năm thì tôi đã hồi phục gần như hoàn toàn. Tôi xin được làm học trò của bà. Bà cũng nhận, nhưng chỉ sai tôi làm việc lặt vặt giúp bà, mãi sau này bà mới dạy cho tôi. Tôi học bà cả chục năm, nhưng cũng chỉ học được một phần nhỏ kiến thức của bà. Mong muốn của bà trước khi nhắm mắt là truyền được môn bấm huyệt Thập Thủ Đạo càng rộng càng tốt, để cứu được nhiều người. Cả đời bà Lịch bấm huyệt cứu người hoàn toàn vì cái tâm trong sáng, không vụ lợi. Bà Lịch cũng nói rõ với học trò rằng, chỉ những người có tâm trong sáng, cứu người không vụ lợi mới học được môn bấm huyệt Thập Thủ Đạo…”

Lương y Huỳnh Thị Lịch tên thật là Trần Thị Kim Thanh, sinh ngày 04/10/1914 (nhằm ngày 15 tháng 8 năm Giáp Dần) tại làng Hành Thiện, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định. Trong ký ức của bà chỉ có vậy, còn tên bố mẹ, không thấy bà nhắc đến, chỉ biết gia đình bà 7 đời làm nghề thuốc. Ngay từ nhỏ, cô bé Thanh đã gặp cảnh éo le. Mẹ mất sớm, cha lấy vợ hai, người thân đói khát, bỏ làng bỏ xứ đi cả. Bé Thanh bơ vơ, không ai nuôi dưỡng.

11 tuổi cô bé Thanh đã tìm đường vào Nam. Trong một lần đi xin ăn, Thanh đã gặp một võ sư người Bình Định, lập nghiệp ở Bình Dương, với một lò dạy võ nổi tiếng. Võ sư họ Huỳnh rất quý Thanh, đã nhận làm học trò, sau đó nhận con nuôi. Ông đã đổi lại tên cho, từ đó, Trần Thị Kim Thanh có tên là Huỳnh Thị Lịch, tức mang họ của vị võ sư.

Thì ra, chính vì được học võ thuật kỹ lưỡng, nên bà hiểu rất rõ kinh lạc trên cơ thể người.

Sau khi rời võ đường của võ sư họ Huỳnh ở Bình Dương, bà được một bác sĩ Pháp nhận vào làm tại Bệnh viện Hỏa Xa. Thấy cô y tá tò mò về mổ xẻ bệnh nhân, lại am hiểu kinh mạch, bộ phận cơ thể người, nên ông cho Lịch phụ mổ. Trong nhiều lần mổ tử thi, ông cũng cho Lịch tham gia.

Năm 1935, Lịch gặp anh thanh niên tên Trần Văn Hải, người Củ Chi. Hai người yêu nhau, xây dựng gia đình. Bi kịch liên tiếp xảy đến với người đàn bà bất hạnh này: cả chồng và 3 người con bà đều chết thảm. Bi kịch kinh hoàng khiến bà Lịch tưởng như không gượng dậy được. Bà về Sài Gòn, lang thang các con phố như người mất trí, miệng gọi tên con.

Trong lúc đi lang thang, bà gặp lại vị bác sĩ người Pháp. Ông bác sĩ tốt bụng này đã đưa bà về nhà chăm sóc, điều trị. Để bà quên đi nỗi đau quá lớn, bác sĩ này đã đưa bà sang Pháp, giúp việc cho gia đình này. Ở nhà vị bác sĩ người Pháp này một thời gian, bà quyết tâm chu du thiên hạ. Biết tiếng Pháp, lại chăm chỉ, nên bà dễ dàng kiếm được việc làm. Cứ có tiền, bà lại lên đường tìm đến vùng đất mới.

3. HUỲNH THỊ LỊCH TÌM THẦY HỌC ĐẠO

Tương truyền, sau mấy năm lưu lạc, thì bà trôi dạt tới tận biên giới Ấn Độ, giáp Pakistan. Tại đây, bà gặp một đạo sĩ, sống trong một ngôi chùa trong núi. Vị đạo sĩ này có khả năng bấm huyệt kỳ tài. Thấy bà Lịch giỏi võ, am hiểu kinh lạc, nên đạo sĩ đã nhận bà làm học trò.

Bà Lịch đã rất kinh ngạc trước khả năng kỳ tài của vị đạo sĩ này. Ông đã giúp hàng ngàn người đang câm tự dưng bật ra tiếng nói, đang điếc bỗng nghe được, thậm chí đang chống nạng thì bỏ nạng, ngồi xe lăn thì đứng lên đi… Người dân trong vùng coi vị đạo sĩ này như thánh nhân, gặp thì quỳ rạp khấn vái.

Thấy môn bấm huyệt này rất thần hiệu, bà Lịch chuyên tâm học hỏi.

Năm thứ 12, biết mình không sống được nữa, vị đạo sĩ này gọi bà Lịch đến bảo: “Số ta đã tận, không sống thêm được nữa. Chỉ tiếc rằng chưa truyền hết được cho con tinh hoa của môn bấm huyệt. Ta đã viết lại các kiến thức của mình vào cuốn sách để truyền lại cho con. Ta mong con cảm thụ được hết kiến thức về môn bấm huyệt này để giúp đời. Con nên nhớ rằng, để thành tài, con phải loại bỏ hết tham sân si, trị bệnh cứu nhân độ thế, không được lấy tiền của thiên hạ, thì mới thành công được”.

Ngay đêm hôm đó, vị đạo sĩ người Pakistan trút hơi thở cuối cùng. Bà Lịch nước mắt lưng tròng, chôn vị đạo sĩ phía sau ngôi chùa. Hàng ngày, bà ngồi bên mộ thầy, tập trung nghiên cứu tài liệu mà thầy đã trao cho.

Chỉ một năm sau, vừa tự học, vừa trị bệnh, bà cũng đã trở thành thần y bấm huyệt nổi danh khắp vùng, là truyền nhân duy nhất của vị đạo sĩ bí ẩn được tôn xưng như thánh ở biên giới Ấn Độ.

4. CHUYỆN KỂ VỀ BÀ HUỲNH THỊ LỊCH

Có thể nói, bà Huỳnh Thị Lịch là “thần y” bấm huyệt bí ẩn nhất Việt Nam. Bà để lại di sản kiến thức bấm huyệt đáng ngưỡng mộ, nhưng gần như chưa được nghiên cứu, áp dụng môn bấm huyệt này rộng rãi để trị bệnh, nâng cao sức khỏe cho người dân.

Cả đời bà âm thầm chữa bệnh, truyền dạy cho các học trò, và đặc biệt không tiếp xúc với giới truyền thông, nên thân thế, sự nghiệp của bà rất bí ẩn. Học trò của bà chủ yếu là những người thiên về thực hành, lại không quảng bá rộng rãi, nên tưởng như môn bấm huyệt mà bà gọi là Thập Thủ Đạo đã biến mất.

Thuở sinh thời, khi bắt đầu chữa bệnh, bà Lịch bắt mạch, nghe ngóng, rồi đọc ra đủ thứ bệnh trong người bệnh nhân – những thứ bệnh mà phải chiếu chụp, siêu âm, xét nghiệm mới biết được. Nhiều người cũng cảm thấy khá ngạc nhiên.

Lương y Huỳnh Thị Lịch đang bấm huyệt trị bệnh

Bà Lịch một tay khóa ở cổ tay, một tay bấm nhoay nhoáy, lúc nhanh, lúc chậm như thể gẩy đàn. Hết bấm tay, lại bấm chân, vai, gáy. Bà bấm đến đâu, người được bấm có cảm giác như máu tràn đến đó, gân cốt căng lên. Họ kể lại: không tin nổi một cụ bà ngoài 80, mà đôi tay vẫn cứng như thép, làm việc không biết mệt mỏi.Bà Lịch qua đời năm 2007, khi tròn 93 tuổi.

Lương y Huỳnh Thị Lịch luôn mong có những học trò tâm huyết để học hỏi, thừa kế phương pháp Thập Thủ Đạo này để trị bệnh cứu người. Bà có 4 yêu cầu chủ yếu đối với các y sinh:

  1. Thương yêu vô hạn đối với bệnh nhân, đặc biệt là đối với trẻ em và những người tật nguyền, khốn khổ.
  2. Say sưa tìm tòi trong nghề nghiệp.
  3. Giữ cho mình một tâm hồn, đạo đức trong sạch, một sức khoẻ tốt, không làm tiền bệnh nhân.
  4. Chú ý rèn luyện những ngón tay bấm huyệt, không phải bằng sức mạnh ngón tay mà với tất cả nội khí của toàn thân mình…

Mười hai năm lưu lạc ở nước ngoài như Pháp, Pakistan, Nhật, Ấn Độ… bà cũng đã học hỏi được biết bao điều. Lớn lên trong một gia đình có 7 đời làm nghề y, cộng với một tấm lòng, năng khiếu trời cho, cha mẹ sinh, bà vẫn không nguôi ý định học hỏi, trưởng thành trong cái nghiệp trị bệnh cứu người. Khó ai có thể nghĩ cô bé Thanh làm con ở ngày ấy lại trở thành bà Sáu Lịch, bà Thầy bấm, bà lang Hàng Xanh

Lương y Huỳnh Thị Lịch

nổi tiếng trong dân đang bấm huyệt gian sau này. Bà đã học hỏi tất cả những gì có thể, thậm chí pha trộn kiến thức, rồi bằng thực tế cứu người, đúc rút dần dần. Bà tâm sự chân thành và khiêm nhường: Tôi đâu có được học. Tôi chỉ là một người giúp việc, hoàn toàn học lỏm. Tôi cũng không ngờ tôi chữa được thành công.

Nhưng thực tế bà đã thành công và thành công rất lớn. Như chúng ta đã biết ngoài tấm lòng tận tụy thương yêu vô hạn, vô tư của bà đối với bệnh nhân bà còn rất yêu nghề với lòng say sưa, bà thường nói: “tôi trăn trở suốt đêm không ngủ vì chữa mãi bệnh nhân ấy không khỏi”…

Từ câu chuyện cuộc đời đầy gian truân và những câu nói khiêm nhường của lương y Huỳnh Thị Lịch, có thể hình dung vài nhận xét sơ bộ: • Dù ít chữ, nhưng bà có năng khiếu bẩm sinh của một người sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm nghề y, do vậy đã tiếp thu rất nhanh các kiến thức của những người thầy người Việt, người Pháp, người Pakistan.

  • Kiến thức của bà gồm Y võ Bình Định (Trung hoa – Việt Nam), Y học Pháp và Y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurvedic). Bà đã kết nối được 3 trường phái y học lớn và tìm ra con đường riêng cho mình.
  • Với cái Tâm của một “bà Phật hóa thân”, lương y Huỳnh Thị Lịch đã trăn trở ngày đêm để trị bệnh cứu người, nhờ đó bà hoàn thiện dần giải pháp Thập Thủ Đạo, có phần khác biệt so với nguyên bản Ayurvedic do sư phụ Pakistan gốc Ấn truyền đạt.

Trong phần sau sẽ lý giải thêm về các điểm khác biệt do bà Huỳnh Thị Lịch tạo nên.

Hồi còn sống, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, đã viết thư gửi Lương y Huỳnh Thị Lịch với những lời cảm kích: “TP.HCM 29/2/1992 Cô Sáu Lịch,

Đọc bài thơ của Cô rồi, tôi rất phục Cô và thương Cô vì trong lòng Cô còn vương vấn chút khổ đau trần tục, chưa được thanh thoát như Phật Thích Ca trên toà sen. Phục Cô ở chỗ: Có lòng tự hào dân tộc, nhân từ, đạo đức, lo cho nhân dân, lấy chân lý làm vinh, làm lương y với đôi tay thần luyện, với lòng thương bao la không biên giới, cao như Hy mã lạp sơn, như biển đông xanh mát, có đạo Phật từ bi bác ái. Bao nhiêu đức tính ấy đã đủ cho một người tự an ủi mình trong cuộc đời gian khổ để sống hạnh phúc!

Tôi vui với bản tình ca

Cứu người khỏi bệnh mới là đẹp cao

Nhưng tại sao có người kỳ thị thua hờn, lại có người muốn hỏi về đời sống của người lương y thần hiệu? Vì một lẽ rất đơn giản! Vì Cô đã nổi danh chữa bệnh mà quần chúng muốn hiểu rõ đời cô như của đức Phật. Đó là cái khổ của những người đã nổi tiếng! Quần chúng muốn đọc một cuốn sách về đời Cô như một tiểu thuyết dài thật dài mới thoả mãn được nhu cầu tình cảm của quần chúng. Đi Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan… ở mỗi nơi có gì lạ, trong óc suy nghĩ ra sao, học lỏm cách nào? Sự kết tinh trong óc để tạo ra cách bấm huyệt… Làm sao trình bày cho rõ như trong một khối thuỷ tinh trong suốt.

Tôi hết lòng thương Cô, phân tích rõ ngọn ngành để cô bước lên đài vinh quang mà quần chúng mong đợi.

Rồi phải tập hợp học trò cũ lại, viết lại kỹ thuật khám bệnh tài tình, học trò chưa hiểu rõ, lựa chọn người tiến bộ để đào tạo huấn luyện viên đặc biệt sẽ nối nghiệp Cô…Nguyễn Văn Hưởng”

Nhân lá thư cụ Nguyễn Văn Hưởng gửi bà Huỳnh Thị Lịch, cũng nên nói thêm về vị cựu Bộ trưởng bộ Y tế đặc biệt quan tâm phương pháp Huỳnh Thị Lịch. Năm 1927, ông học Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong 4 năm ở Hà Nội, ông lại học tiếp 2 năm ở Paris và bảo vệ luận án tốt nghiệp năm 1932. Năm 1933, ông về nước và làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn trong 5 năm, được xem là một trí thức lớn ở Sài Gòn

(nhiều bác sĩ nổi tiếng đánh giá ông chỉ sau Phạm Ngọc Thạch, và chính ông kế nhiệm chức vụ Bộ trưởng Y tế từ Phạm Ngọc Thạch vào 1969). Năm 1939, ông mở phòng mạch, phòng xét nghiệm tại số nhà 224 đường Cống Quỳnh ngày nay – đây chính là phòng khám bệnh tư có kèm phòng xét nghiệm đầu tiên ở Sài Gòn.

Tháng 3 năm 1969, ông chính thức trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam. Ông bị tai biến mạch máu não 1970, nằm liệt giường, nhưng sau 5 năm kiên trì tập luyện, ông đã khỏi và trở lại làm việc, đồng thời viết sách “Phương pháp Dưỡng sinh” với 72 động tác cơ bản và đã được tái bản ít nhất 12 lần.

Ông viết cuốn “Phương pháp dưỡng sinh” từ tác phẩm “Vệ sinh yếu huyết” của Lê Hữu Trác kết hợp với kiến thức hiện đại về sinh lý học. Đời ông cố gắng làm cho mọi người theo khẩu hiệu cách mạng của Tuệ Tĩnh “Nam dược trị Nam nhân” và tin vào khả năng chống bệnh tật bằng ý chí và nghị lực của mình dựa trên một số hiểu biết cơ bản.

Nhiều người xem ông là tấm gương lớn về luyện tập thành công sau tai biến não, và cuốn sách của ông được coi là nền tảng đầu tiên cho ngành dưỡng sinh Việt Nam. Về công việc, ông là đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II (1960-1964) và khóa III (1964-1971, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II, III (1960-1971). Ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996).

Khi bà Lịch đã nổi tiếng lừng lẫy khắp Việt Nam chữa bệnh như thần, bà xin phép Bộ Y tế đăng ký chính thức Thập Thủ Đạo như một phương pháp chữa trị chính thống thì không được công nhận vì lý do Thập Thủ Đạo chưa đưa ra được cơ sở khoa học. Bà Lịch đau khổ đến mức tuyệt vọng. Vị bác sĩ, nguyên bộ trưởng bộ Y tế thấu hiểu nỗi lòng đã viết lá thư ở trên động viên tinh thần bà.