THẬP THỦ ĐẠO Ở VIỆT NAM

39 lượt xem

Trước đây bà Huỳnh Thị Lịch đặt tên cho bộ môn này là Thập Thủ Đạo, nhưng trong quá trình bấm huyệt, bà đã đổi tên là Thập Thủ Đạo để lột tả hết tính chất, ý nghĩa và đặc thù của bộ môn. THẬP THỦ ĐẠO : Thập = 10, Thủ = cánh tay, […]

Trước đây bà Huỳnh Thị Lịch đặt tên cho bộ môn này là Thập Thủ Đạo, nhưng trong quá trình bấm huyệt, bà đã đổi tên là Thập Thủ Đạo để lột tả hết tính chất, ý nghĩa và đặc thù của bộ môn.

THẬP THỦ ĐẠO : Thập = 10, Thủ = cánh tay, Đạo = con đường & phương pháp.

Thập Thủ Đạo : Thập = 10, Chỉ = ngón tay, ngón chân, Đạo = con đường & phương pháp.

  1. CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH  THẬP THỦ ĐẠO

Thật sự, nhiều bác sĩ châu Âu và lương y Việt Nam coi nguồn gốc Thập Thủ Đạo là 10 đường Kinh “Năng Lượng” phản ảnh cơ quan ngoại vi hay cơ quan nội tạng tương ứng của cơ thể trên chính là từ 10 đường “Kinh cân” hay là hình ảnh phản chiếu cơ quan của cơ thể và đường kinh năng lượng có ảnh hưởng trực tiếp với nhau.

Thập Thủ Đạo của lương y Huỳnh Thị Lịch độc đáo ở các kỹ thuật khóa chặn và bơm máu. Nhưng bà không để lại bất cứ tài liệu nào để giải thích cơ sở khoa học cho Thập Thủ Đạo. Chỉ duy nhất có một cuốn sách mỏng do Sở Y tế tỉnh Tiền Giang cho phép lưu hành như một tài liệu đào tạo nội bộ do bác sĩ-trung tá công an Hồ Kiên ghi chép tháng 6 năm 1983 và được bác sĩ Hoàng Vĩnh Bảo, nguyên Giám đốc Sở y tế, nguyên Chủ tịch Tỉnh hội Y học Dân tộc Tiền Giang viết lời giới thiệu, trong đó cũng khẳng định Thập Thủ Đạo chưa tìm ra được cơ sở khoa học tin cậy, nên Thập Thủ Đạo như một bài ca vẫn cần viết tiếp lời…

Theo bác sĩ Hồ Kiên – người được Sở Công an Tiền Giang giao nhiệm vụ hỗ trợ bà Huỳnh Thị Lịch, cho tới nay, chưa tìm được tài liệu nào chính thức xác nhận cơ sở khoa học của Thập Thủ Đạo. Khoảng năm 1973, một học trò của bà Lịch là tu sĩ Hoàng Tam đã cố gắng giúp bà Lịch đúc kết kinh nghiệm chữa bệnh của bà và phác họa ra 10 đường kinh của phương pháp. Tài liệu được chép tay với sự đóng góp ý kiến của bà Lịch. Từ tài liệu này, bác sĩ Hồ Kiên đã biên soạn một tập sách mỏng như đã nói ở trên, được Sở Y tế Tiền Giang xuất bản, dùng làm tài liệu cho các lớp học Thập Thủ Đạo do bà Huỳnh Thị Lịch hướng dẫn tại Tiền Giang.

Ngay từ 1973, anh Hoàng Tam cũng đã nghĩ rằng việc bấm huyệt nhẹ nhàng theo tần số nhất định, sẽ tạo ra những xung động hưng phấn đối với các dây thần kinh, các Synac thần kinh sẽ có thể hoạt hoá trở lại nhờ ở sự kích thích tiết ra các chất hoá học trung gian dẫn truyền xung động các Synac đó. Theo bà Lịch và anh Tam, 10 đường kinh đi từ đầu 10 ngón tay, ngón chân gọi là 10 đường kinh của Tam Tinh (mặt bụng ngón) và Ngũ Bội (mặt lưng có móng của ngón tay, chân).

Ngũ bội, tam tinh ở tay:

  • Ngón 1 (ngón cái): Từ đầu ngón theo động mạch quay lên khuỷu tay nách, từ nách chia làm hai nhánh: • Nhánh thanh quản, vùng mặt • Nhánh xuống vùng ngực.
  • Ngón 2 (ngón trỏ): Từ ngón trỏ lên cổ tay, ra mặt ngoài cánh tay, lên hố xương đòn và cổ.
  • Ngón 3 (ngón giữa): Từ ngón giữa, mặt ngoài cánh tay, qua nách vào ngực, hướng vào tim.
  • Ngón 4 (ngón đeo nhẫn): Từ ngón áp út dọc giữa cẳng tay, qua khuỷu tay lên vai, cổ, mặt và não bộ.
  • Ngón 5 (ngón út): Từ ngón út dọc cánh tay vòng qua sau vai, thẳng lên gáy, dọc qua tay lên đầu.

 

Ngũ bội, tam tinh ở chân:

  • Ngón 1 (ngóncái): Từ ngón cái tới trước mắt cá trong, lên đùi, bộ phận sinh dục, lên vùng ngực, qua miệng, mũi, mắt.
  • Ngón 2 (ngón trỏ): Từ ngón 2 đi dọc bàn chân, lên đầu gối cạnh sườn, cột sống lưng, chia làm hai nhánh:
    • Một nhánh vào háng, bộ phận sinh dục, phân bố ở bụng, lên cổ, mép miệng, xương gò má, mũi và vùng ở trước tai.
    • Một nhánh từ háng sang chân bên kia.
  • Ngón 3 (ngón giữa): Từ ngón giữa tới mu bàn chân, đầu gối, đùi, bụng, lên ngực, qua hoành cách mô, hướng về tim.
  • Ngón 4 (áp út): Từ ngón áp út tới mắt cá ngoài, đầu gối, háng, qua mặt tiếp đùi, qua xương cùng, lên cạnh sườn, vùng vú nách, lên tai, trán, đỉnh đầu, xuống hàm lại lên má cạnh mũi, tới đây có một nhánh về đôi mắt.
  • Ngón 5 (ngón út): Từ ngón út tới mắt cá ngoài lên đầu gối, qua phần ngoài cẳng chân, lên mông, dọc cột sống, chia thành 2 nhánh: nhánh vào lưỡi và nhánh lên đỉnh đầu, qua mặt, mũi, gò má mắt.
  • Căn cứ theo đường kinh này, có thể giúp chúng ta ghi nhớ được một số công năng của các điểm tam tinh, ngũ bội, biết những vùng đường kinh đi qua và chữa được bệnh gì.

Vạch ra các đường kinh này, cũng do các học trò của bà, trong đó có lương y Tăng Văn Quang, hiện là Chủ tịch Đông y huyện Hóc Môn. đã dựa vào hiện tượng giật cơ, thường được gọi là các ven lên hay hướng tê tức. Những đường kinh này bắt nguồn từ 10 đường kinh cân nên về mặt lý thuyết chưa được hoàn chỉnh chặt chẽ, tương tự như một cung phản xạ của thần kinh, hoặc sự khép kín thành một vòng tuần hoàn trong 14 đường kinh châm cứu, nhưng chúng ta không thể vội vàng bác bỏ mà phải bình tĩnh học hỏi và suy xét thêm. Ngoài ra Thập Thủ Đạo không sử dụng các huyệt châm cứu thông thường.

2. CÁC NHÀ THỰC HÀNH NGHĨ VỀ THẬP THỦ ĐẠO

Trong thời gian điều trị cũng như trong những tài liệu được ghi chép lại, câu nói quan trọng nhất của bà Huỳnh Thị Lịch được ghi lại là: “Đấy, đấy cái “ven” nó lên rồi đấy” mỗi khi bà tác động lên tay, chân của người bệnh và bà thường hướng dẫn các học trò quan sát các “ven” (veins) của người bệnh trong lúc chữa trị.

Để góp phần hoá giải những băn khoăn, vén bức màn tưởng chừng huyền bí quanh việc chữa bệnh từ xưa đến nay của bà, mời bạn đọc dõi theo phần nói về những bí quyết của phương pháp Thập Thủ Đạo này.

Về mặt chẩn đoán

Khi tiếp xúc và khám bệnh cho bệnh nhân, bà quan tâm trước tiên tới chứng bệnh mà bệnh nhân cảm thấy như động kinh, nhức đầu, câm, điếc, suyễn, bại liệt… Bà không chẩn đoán các hội chứng thần kinh kiểu y học hiện đại, như Suyễn, Parkinson, liệt rung… Tiếp theo, bà bắt mạch và nhiều khi sau bắt mạch, bà ngẫm nghĩ và nói về bệnh của bệnh nhân nhưng không theo quy tắc của chẩn mạch đông y (phù, trầm, trì, sác ở vị trí Thốn, Quan, Xích…). Bà bắt mạch với hai tác dụng: Một là, căn cứ vào trạng thái của mạch như nhanh chậm, trương lực của mạch, dáng đi của sóng mạch… kết hợp với nhận xét trạng thái bên ngoài của sức khoẻ bệnh nhân như niêm mạc mắt, rêu lưỡi, màu da, vết quầng mắt…

Dựa vào vị trí di lệch của ven (so sánh hai bên và so sánh với người lành, nhất là những tĩnh mạch lớn), các hình dạng của tĩnh mạch nhỏ (như hình móc câu, hình giun, hình sóng), tình trạng dẫn tĩnh mạch do ứ đọng máu… để suy ra vùng tổn thương ở chỗ bà không nhìn thấy. Bệnh nhân không cởi quần áo, nhưng nhiều khi bà gọi đúng vị trí nơi tổn thương, tình trạng không cân đối của các nhóm cơ. Tình trạng căng cứng của các gân cơ là những căn cứ để chẩn đoán và theo dõi kết quả của bà ngay sau lúc bấm huyệt hay sau một liệu trình điều trị có kết hợp với tình trạng phát triển của các cơ liệt bị teo, cũng như mức độ phục hồi của chức năng vận động để đánh giá. Khi khám bệnh, bà thường chỉ cho học viên và reo lên:

  • Đấy, đấy, ven nó lên rồi đấy.

Hoặc là:

  • Hai ven này đè lên nhau, bao giờ nó tách ra được thì bệnh khỏi.

Bà luôn luôn sử dụng khái niệm “ven” khiến người mới đến học rất khó hiểu. Nhưng nét độc đáo từ chỗ đó. Tình trạng máu bị ứ lại làm tĩnh mạch phồng lên, co bóp và giật được bà gọi là ven lên và xẹp đi sau khi bấm huyệt làm chuyển động các cơ teo liệt, do đó máu bị dồn đi là dấu hiệu quan trọng để đánh giá kết quả và tiên lượng khả năng chữa khỏi bệnh.

Cơ sở nhận xét của bà là có lý, các cơ teo liệt không đồng đều mất cân đối giữa các nhóm cơ đã dẫn đến tình trạng chèn ép co kéo làm biến dạng hệ tĩnh mạch và xương, từ đó cản trở sự lưu thông của máu trong hệ tĩnh mạch.

Về phương pháp chữa bệnh, Bà Lịch có nhiều nét độc đáo.

Sau khi chẩn đoán bệnh, bà thường có 2 thái độ xử lý: Nếu đó là chứng bệnh đã quen thuộc (cao huyết áp, suyễn, bướu cổ…), bà bấm huyệt ngay theo phác đồ đã thành quy trình nhất định. Nếu là bệnh ít gặp, hơi khó, bà suy nghĩ rồi đi đến kế hoạch phối huyệt để chữa bệnh. Bà chủ yếu dựa vào lý luận dẫn máu, dồn máu xuống, đưa máu lên. Rồi dùng thủ thuật bấm huyệt day, xoa, nắn cho khối cơ di chuyển để dẫn máu xuống chỗ trũng, làm giảm máu chỗ lồi, chỗ sưng cứng. Nét độc đáo ở chỗ bà bấm từ đầu ngón chân, ngón tay cho các cơ di chuyển, co giật nhằm mục đích đẩy máu, không đơn thuần dựa vào day bấm xoa bóp tại chỗ đau. Đây là một điều khó, nhưng có hiệu quả tốt. Đôi khi, bà dùng thước dây đo lại vùng cương tụ máu ở chi khi bấm huyệt dẫn máu thoát đi để xác định lại kích thước.

Trước khi bấm huyệt chính thức, nguyên tắc bắt buộc đối với y sinh Thập Thủ Đạo là phải khai thông huyệt đạo cho bệnh nhân. Về thực chất, đó là sự khởi động cho các cơ tê liệt ở mức độ nặng nhẹ khác nhau, được chuẩn bị để đi vào chịu sự bấm huyệt mạnh hơn, tránh bấm mạnh đột ngột gây nên phản xạ đột biến co cứng cơ, đau đớn bệnh nhân, làm tổn thương thêm các cơ bị liệt.

Khi bấm huyệt, tay y sinh bao giờ cũng ở tư thế khoá huyệt đối với bệnh nhân. Đây là một nét rất độc đáo của môn này.

Có 4 loại khoá chính: khoá Hổ khẩu ở cổ tay, khoá Khô khốc ở cổ chân, khoá Cơ bản ở ngón tay, khoá Bí huyền ở đầu gối. Khoá có tác dụng thứ nhất là hãm phanh, chỉ cho các cơ co giật vừa phải với thể lực bệnh nhân, tác dụng thứ hai là giúp kích thích phản xạ như thể những ngón tay bấm nốt đàn, còn tay bấm huyệt như tay gẩy dây đàn.

Nét độc đáo của Thập Thủ Đạo còn ở tính nguyên tắc về việc sử dụng các huyệt hồi sinh. Có rất nhiều huyệt được gọi là huyệt hồi sinh, chính là những huyệt trợ sức, tăng cường sức chịu đựng và có tác dụng cấp cứu tốt khi có rối loạn huyết động học. Chỉ với những động tác bấm rất nhẹ nhàng, như múa, các cơ tê liệt giật rất nhẹ, nhưng bệnh nhân đã ra mồ hôi hoặc nóng bừng, mặt đỏ như vừa qua một vận động quá tải. Sự nhẹ nhàng ấy đòi hỏi y sinh phải điêu luyện về thủ pháp day bấm. Bà kể: Tôi phải học 12 năm cách bấm đó. Cốt bấm trúng, không dùng sức mạnh làm đau bệnh nhân. Phải bấm đúng như bấm nốt đàn, bấm mạnh mà sai thì vô ích.