THẬP THỦ ĐẠO VÀ Y MAO MẠCH Ở NƯỚC NGOÀI

65 lượt xem

LÝ THUYẾT ZONA THERAPY CỦA W.H.FITZERALD VÀ LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT Ở ÂU-MỸ Như đã nói ở mục 2, W. H. Fitzerald là người đầu tiên đưa ra lý thuyết Zone Therapy với hình ảnh 10 đường kinh để giải thích bức tranh Ai Cập 2330 năm trước Công Nguyên. Các đường kinh năng này […]

LÝ THUYẾT ZONA THERAPY CỦA W.H.FITZERALD VÀ LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT Ở ÂU-MỸ

Như đã nói ở mục 2, W. H. Fitzerald là người đầu tiên đưa ra lý thuyết Zone Therapy với hình ảnh 10 đường kinh để giải thích bức tranh Ai Cập 2330 năm trước Công Nguyên.

Các đường kinh năng này có liên hệ mật thiết từ đầu các ngón tay, ngón chân và đi thẳng lên đầu, rồi chuyển chéo qua tay chân bên đối diện, theo dạng hình chữ Z.

Cuốn sách của William H.Fitzerald 1979

Cuốn sách này đến nay vẫn được coi là tài liệu kinh điển của môn Phản xạ liệu pháp (Reflexology) – Việt Nam ta vẫn gọi là matxa chân (Foot Massage).

Dựa vào cơ chế 10 đường kinh và hiểu rõ sự vận hành luân chuyển của dòng năng lượng trong cơ thể hay còn được biết đến với tên gọi là 10 đường Kinh Năng, giải pháp Thập Thủ Đạo chủ yếu kích hoạt và khai thông các trung tâm năng lượng theo những đường dẫn truyền năng lượng dọc theo cơ thể theo các đầu ngón của chi, giúp lưu thông khí huyết, giảm áp lực trong cơ thể…

Từ cách giải thích như thế, có thể thấy W. H. Fitzerald chưa hẳn đã hiểu động tác khóa mạch máu của người Ai Cập, nên ông chỉ đơn giản lấy bức tranh 2330 năm trước để minh họa cho lý thuyết Zone Therapy của mình.

Sau lý thuyết Zone Therapy, W. H. Fitzerald đã đề xuất môn dưỡng sinh Reflexology (Phản xạ liệu pháp) và ông được coi như người sáng lập môn này ở phương Tây. Phần lớn các trang web về Reflexology đều đành những đánh giá trân trọng cho W. H. Fitzerald.

Ngành Reflexology ở các nước có nhiều phân nhánh khác nhau, trong đó có vài nhánh nêu lên vấn đề bấm huyệt để tăng lưu thông máu. Một vài tác giả cũng đề cập đến việc bấm các huyệt ở khu vực cổ chân để cải thiện tuần hoàn ở chân, nhưng chỉ là một biện pháp nhỏ trong hàng trăm mục của cuốn sách bấm huyệt. Rất nhiều tài liệu về Reflexology đề cập đến sơ đồ huyệt của Ấn Độ và Trung Hoa, khi sang châu Âu có cải biên và bổ sung thêm, nhưng về cơ bản, không vượt qua được bấm huyệt cổ truyền Trung Quốc.

 

LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ (AYURVEDIC REFLEXOLOGY)

Tại Ấn Độ, một quốc gia có lịch sử phần lớn gắn kết với các tôn giáo, 5.000 năm trước người ta đã nghĩ các cơ quan trọng con người tượng trưng cho sự thống nhất của toàn bộ vũ trụ. Ayurveda là hệ thống chăm sóc sức khỏe cổ truyền của Ấn Độ có từ lâu đời, nhưng các y văn về Ayurveda hình thành rất chậm (khoảng giữa 400 trước Công nguyên-BD, đến 200 sau Công nguyênAD). Có lẽ bởi vì ngôn ngữ của các tài liệu là tiếng Phạn, một ngôn ngữ không thông dụng trong giao tiếp hàng ngày ở Ấn Độ, nên nhiều đóng góp lớn của Ayurveda vẫn không được công nhận trong các tài liệu liên quan đến lịch sử của y học. Trong số đó, việc phát hiện ra lưu thông máu đã được đưa lên như một việc quan trọng nhất.

Thực tế ở châu Âu, vấn đề tuần hoàn máu có sự kiện chấn động vào năm 1628, khi Wiliam Harvey công bố công trình nghiên cứu với nhan đề “Hoạt động của tim và máu động vật”. Cuốn sách chỉ dày 71 trang nhưng đã giáng một đòn mạnh lên những tư tưởng lỗi thời hàng thế kỉ. Nhưng cũng vì vậy mà Harvey nhận không ít sự phản đối cũng như chế giễu của những nhà khoa học khác. Viện trưởng Viện đại học Paris phản đối ngay “Việc phát hiện ra tuần hoàn máu không chỉ là một điều sai trái, không thể có được, không thể hiểu được, vô ích đối với y học mà thậm chí còn có hại cho đời sống con người”.

Ở phần trên đã nói lý thuyết Zone Therapy của W.H. Fitzerald công bố năm 1917. Thật ra, cuốn sách đầu tiên trong lĩnh vực này được đưa ra vào năm 1582 bởi hai bác sĩ châu Âu Dr.Adamus và Dr. A’tatis. Điều này cho phép nghĩ rằng tại thời điểm này, nhiều người châu Âu đã sử dụng một số hình thức trị liệu bấm huyệt.

Lý thuyết về “phản xạ có điều kiện” được nhà bác học Nga I. Pavlov (1849-1936) nêu ra vào 1883, nhưng mãi đến 1904 ông mới nhận được giải Nobel (trong các sách giáo khoa sinh học đều mô tả phát minh của I. Pavlov). Như vậy, có thể W. H. Fitzerald thừa hưởng những nghiên cứu của W. Harvay, I. Pavlov và các kinh nghiệm của Ayurveda ở Ấn độ.

Khi người Anh chiếm được Ấn Độ, những phát kiến của Harvay, Fitzerald… cũng góp phần làm sáng tỏ các bí quyết của Ayurveda về lưu thông máu (phải nói thêm: Auyrveda có 8 chuyên ngành lớn, trong đó lưu thông máu chỉ là một nhánh nhỏ thuộc nhóm nội khoa).

 

Quan niệm vận hành hệ tim mạch ở Ayurveda

Trong y văn Ayurveda, tim và các mạch gắn liền với nó đã được mô tả để vận chuyển bốn thực thể quan trọng sau đây:

  • Rasa” (thường dịch là “dưỡng trấp”), các chất lỏng dinh dưỡng nuôi dưỡng phần còn lại của các mô.
  • Rakta” các phần màu đỏ là rất cần thiết cho sự sống.
  • Ojas” một phần nhỏ màu trắng, các chức năng của chúng gắn liền với khả năng miễn dịch.
  • Prana” một phần nhỏ mà có nguồn gốc thông qua các hành động của hô hấp. Do đó, cái ngày nay được biết như là “máu” nên bao gồm tất cả các thành phần, do đó cần phải cẩn thận khi dịch các thuật ngữ như Rasa, Rakta, Ojas, và Prana. Đây có lẽ là một trong những lý do quan trọng cho một số trong những đóng góp quan trọng của Ayurveda đã không được chú ý.

Tương tự, Ayurveda giải thích rằng “āhāra” (thực phẩm), sau khi trải qua quá trình tiêu hóa hoàn chỉnh, được chuyển đổi thành các chất lỏng dinh dưỡng gọi là Rasa và sau đó Rasa này được chuyển đổi thành Rakta trong “Yakrit” (gan) và “Pliha” (lá lách). Sau đó, Rakta đi vào trái tim. Nguồn gốc của Prana thông qua các hành động hô hấp sau Rakta này. Sau đó Rakta được chuyển thành “Mamsa” (thịt) và các mô khác của cơ thể. Trên cơ sở này, các học giả thường dịch Rasa là dưỡng trấp. Tương tự như vậy, Pneuma và Prana cũng có một sự tương đồng rất chặt chẽ; tuy nhiên, thuật ngữ “Prana” có ý nghĩa theo ngữ cảnh khác nhau là “Sức khỏe”, chứ không phải chỉ đơn giản là “Hơi thở”.

 

Tổ chức chung của hệ thống tim mạch.

Sơ đồ lưu thông máu của Ayurveda cho thấy người Ấn độ có cái nhìn hệ thống rất rõ

Trong Charaka Samhita (Vimana Sthana) mô tả là tim và 10 tuyến mạch máu lớn là cơ sở của hệ thống tim mạch, có trách nhiệm phân phối các chất dinh dưỡng cho tất cả các bộ phận của cơ thể. Charaka rõ ràng giải thích tầm quan trọng tim: “Ngay cả một thiệt hại nhỏ cho trái tim có thể dẫn đến ngất xỉu, và một chấn thương nghiêm trọng có thể dẫn đến cái chết” (Charaka Samhita, Sutra Sthana).

Kiểm soát lưu thông.

“Sutra Sthana và Nidana Sthana” giải thích rằng, sau khi tiêu hóa hoàn toàn của thực phẩm, vật liệu hấp thụ được gọi là Rasa chuyển đến tim và, sau đó, được phân phối cho tất cả các bộ phận khác. Tim được coi là cơ quan trung tâm kiểm soát lưu thông máu, chứ không đơn giản chỉ là cái bơm tự động.

Các mô hình của lưu lượng máu.

Trong Sushruta Samhita xác định rằng “các mô hình của máu [Rasa] dòng chảy có thể so sánh với sự chuyển động của âm thanh, nước và lửa” (Sushruta Samhita, Sutra Sthana).

Ba loại chuyển động trong mạch máu

Charaka ghi ba loại khác nhau của các mạch máu: “Sirah” (mạch không có xung rung động), “Dhamanyah” (mạch co giãn theo nhịp xung), và “Srotamsi” (mạch mà chất lỏng có thể di chuyển ra ngoài) (Charaka Samhita, Sutra Sthana). Cách giải thích này là quan trọng bởi vì nó giả định sự hiện diện của ba phần riêng biệt trong mạch máu: phân khúc có rung động (động mạch), phân khúc trao đổi (mao mạch), và phân khúc vận chuyển (tĩnh mạch).

Chỗ yếu của lý thuyết Ayurveda về lưu thông máu

  • Không đề cập sự hiện diện của các van tĩnh mạch.
  • Tim được coi là trung tâm các chức năng tinh thần nhiều hơn là kiểm soát máu.
  • Vòng tuần hoàn phổi không được minh chứng.

Có lẽ các khiếm khuyết này của Ayurveda đã làm cho “công lực” của các cao nhân Ấn độ bị hạn chế, đồng thời cũng tạo điều kiện cho những người có khả năng kết nối nhiều nền y học (như trường hợp bà Huỳnh Thị Lịch) đi đến những chân trời rộng lớn hơn.

Liệu pháp phản xạ Ấn Độ (Ayurvedic Reflexology)

Như đã nói, khi các lý thuyết W. Harvey và W. Fitzerald thâm nhập vào Ấn độ, giải pháp trị liệu Ayurveda bắt đầu thay đổi.

Ba trong số những điểm rất quan trọng  được quan tâm tác động là:

  • Hridaya: nằm ở trung tâm của ngực ở giữa xương ức, giữ vai trò trung tâm điều hòa tâm trí và ý thức. Nó điều khiển các hệ thống tuần hoàn, huyết áp, sức chịu đựng, sức sống và khả năng miễn dịch. Tương tự như vậy, nó kết nối với cảm xúc, trong đó có nỗi buồn, hạnh phúc, thất vọng, và do dự.
  • Basti: nằm dưới bàng quang, khoảng bốn lóng tay ngón trên xương mu, quy định di chuyển năng lượng, điều khiển ruột già và thúc đẩy sự phát hành của các độc tố và chất thải. Basti cũng cân bằng hệ thống cơ bắp, mô mỡ, hệ tiết niệu, và các hệ thống sinh sản.
  • Sthapani: là giữa lông mày (con mắt thứ ba): điều khiển prana, giác quan, và hệ thống nội tiết. Điểm này sẽ giúp phát triển tập trung, trong sáng, thiền định, và tập trung trong tâm trí. Massage điểm này sẽ làm dịu sự lo lắng, giảm trầm cảm, giảm căng thẳng tinh thần, giải quyết đau đầu, và thúc đẩy giấc ngủ.

Quan sát các dịch vụ Ayurveda đang phát triển mạnh ở Ấn độ trong thời gian gần đây, có thể thấy người Ấn rất chú ý tập trung vào “3 trọng điểm” kể trên. Hàng năm số du khách phương Tây đến Ấn độ để chữa trị bằng Ayurveda có hàng trăm ngàn người. Tuy vậy, chưa tìm thấy có dịch vụ bấm huyệt nào giống như phương pháp Huỳnh Thị Lịch.

Dẫu sao đi nữa, có thể phỏng đoán là vị sư phụ người Ấn gốc Pakistan đã có những kiến thức quan trọng về “10 mạch máu lớn”, về “mạch có xung và mạch không có xung”, rằng “các mạch vùng tim có vai trò điều khiển lưu thông máu”, và “tuyến ức có vai trò quan trọng về sức chịu đựng và hệ miễn dịch”…. Có lẽ đó cũng là những nền tảng quan trọng để bà Huỳnh Thị Lịch mày mò tìm ra những sáng kiến sau này.

DR.KNEIPP – THỦY LIỆU PHÁP CẢI THIỆN MAO MẠCH

Thủy liệu pháp và nước nóng là phương pháp điều trị truyền thống đã được sử dụng để điều trị các bệnh tật và chấn thương của nhiều nền văn hóa, bao gồm cả cổ Hy Lạp, Rome, Trung Quốc và Nhật Bản. Nhưng liệu pháp này phát triển mạnh nhất từ giữa thế kỷ 19, nhờ vị linh mục xứ Bavaria – ông Sebastian Kneipp (1821-1897), người được coi là cha đẻ ngành công nghiệp Spa ở toàn châu Âu.

Năm 1849 Kneipp bị bệnh lao rất nặng, được coi là khó qua khỏi, tình cờ phát hiện ra cuốn sách “Những bài học từ quyền năng chữa lành của nước”. Kneipp tắm vài lần theo công thức nước nóng – nước lạnh và đã thoát khỏi bệnh lao. Ngạc nhiên vì sự kỳ diệu, ông nghiên cứu cơ chế trị liệu này, đi vòng quanh châu Âu để khảo sát các giải pháp thủy liệu pháp dân gian. Khi hiểu cơ chế thủy liệu pháp làm tăng đàn hồi mạch máu, Kneipp lập ra khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Wörishofen, thu hút rất nhiều người. Theo chân ông, ngành Spa phát triển mạnh ở nước Đức, dù các bác sĩ phản đối và kiện ông. Tuy nhiên, do ông chữa trị có kết quả cho hoàng đế nước Phổ Wilhem II và Đức Giáo Hoàng (Giáo hoàng còn tặng cho ông một huy chương vàng), nên các bác sĩ không triệt hạ được ông.

Chỉ trong tháng Tám 1889, 4.000 người đã được lành bệnh ở Wörishofen. Khách tràn vào các làng gần đó, làm ngành Spa phát triển vượt bậc.

Năm 1893 Wörishofen có tổng cộng 33.130 người chữa tại các Spa và hơn 100.000 khách du lịch. Ông nổi tiếng đến mức người châu Âu cuối thế kỷ 19 bình chọn ông lọt vào Top 3 người ảnh hưởng đến thế giới (tất nhiên không kể Đức Giáo hoàng): Thủ tướng Đức Otto Von Bismarck (1815-1898), Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt (18581919) và tu sĩ S. Kneipp (1821-1897).

Theo Hiệp hội Kneipp, ngày nay ở Đức có hơn 600 câu lạc bộ Kneipp với khoảng 160.000 thành viên. Những cuốn sách của Kneipp đạt được hàng triệu bản và vẫn đang được tái bản. Nhiều người cho rằng các phát kiến về mao mạch, tĩnh mạch của thế kỷ 20 cũng lấy cảm hứng từ các nghiên cứu ban đầu của S. Kneipp.

Các nghiên cứu của S. Kneipp và cộng sự cho thấy thủy liệu pháp cải tạo lưu thông máu rất mạnh, với các nét chính như sau:

  • Xen kẽ tắm nước lạnh – nước nóng.

Khi gây lạnh một phần cơ thể, sẽ xảy ra:

  • Gây co mạch, giảm lưu lượng máu
  • Giảm sự trao đổi chất của mô • Gây tê, giảm đau
  • Giảm bạch cầu.

Khi làm nóng một phần cơ thể, sẽ xảy ra:

  • Lớp cơ bắp làm giãn mạch.
  • Tăng di chuyển của bạch cầu, cải thiện hệ miễn dịch
  • Tăng toát mồ hôi và thoát muối.
  • Nhiệt làm tăng thẩm thấu qua thành mao mạch, giúp làm sạch các phụ phẩm thải ra khi trao đổi chất, gây giảm đau, loại bỏ căng thẳng.
  • Do hiệu ứng thủy tĩnh của nước và sự giãn mạch, máu được lưu thông mạnh và giải quyết các điểm nghẽn mạch dưới da, cải thiện các tuyến nội tiết.

Các nghiên cứu của S. Kneipp không mang tính khoa học sâu sắc, vì thời đó chưa có các phương tiện đo lường các thông số mạch máu. Tuy nhiên, sự phát triển thành công, đầy hiệu quả của các Spa và cách giải thích của S. Kneipp đã làm cho nhiều nhà sinh lý học quan tâm đến vấn đề tuần hoàn máu.