Bài 11: SỰ SỢ HÃI , TIẾNG RÊN RỈ, TIẾNG HẮT HƠI LÀ DẤU HIỆU CỦA THẬN THỦY KHÍ.

105 lượt xem

Thời gian và không gian đều có nhiều chất nước (thủy dịch) nhất là phương Bắc, mùa Đông, càng về khuya Thái Âm thủy dịch càng nhiều. Trong cơ thể con người, biểu hiện của Thận thủy khí chính là: Sợ hãi, Rên rỉ – Hắc hơi là tiếng của THẬN THỦY KHÍ SUY . […]

Thời gian và không gian đều có nhiều chất nước (thủy dịch) nhất là phương Bắc, mùa Đông, càng về khuya Thái Âm thủy dịch càng nhiều. Trong cơ thể con người, biểu hiện của Thận thủy khí chính là: Sợ hãi, Rên rỉ – Hắc hơi là tiếng của THẬN THỦY KHÍ SUY .
“CHÍ CỦA THẬN LÀ SỰ SỢ HÃI”. Sự kinh hãi khủng khiếp làm tổn thương đến Thận.
Tâm trạng con người trong gia đoạn Thái âm hoại diệt là sự sợ hãi.
Những người Thận thủy khí suy yếu thường hay sợ. Những biến động hăm dọa tính mạnh, tài sản của con người đều làm cho
THẬN THỦY KHÍ sụp sụp nhanh chóng, đưa tới sự sợ hãi. Chiến tranh, khủng bố, tình trạng mất an ninh, tai nạn, đại dịch là những nguyên nhân lớn lao của THẬN THỦY KHÍ SUY .
Con người sợ hãi cái gì ? tại sao sợ hãi ?
Nếu phân tích kỹ, chúng ta sẽ thấy sự sợ hãi liên hệ với tư dục và với lý tưởng cuộc sống.
1. SỢ HÃI VÀ TƯ DỤC :
Con người luôn luôn sợ hãi đủ mọi điều :
– Sợ mất những lạc thú quen thuộc.
– Sợ mất đi quyền lực, tư lợi.
– Sợ bơ vơ không có sự giúp đỡ thương yêu.
– Sợ tai nạn rũi ro và sợ chết.
Như vậy sự sợ hãi liên hệ mật thiết với tư dục của con người. Tư dục càng nhiều bao nhiêu thì sự sợ hãi càng chồng chất bấy nhiêu. Muốn bảo vệ tư dục, người ta đã cầu cạnh rất nhiều thế lực bên ngoài. Khi thế lực này bị lung lay, không bảo đảm tư dục của người cầu cạnh, thì nỗi sợ hãi xuất hiện.
Con người thèm ăn quá nhiều, ham hưởng thụ khoái lạc dưới vô số hình thức, giá trị con người được đo bằng tài sản, địa vị chiếm hưũ bất lương. Họ đã xây dựng hạnh phúc trên ngoại vật phù phiếm bất ổn, nên chắc chắn phải chịu đựng những cơn sợ hãi kinh hoàng.
Đã đến lúc con người cần ý thức sâu xa sự kiện này để tìm cách sống trong an lạc hạnh phúc thật sự. Đó là một đời sống đơn giản giải trừ khoái lạc phù phiếm, giải trừ danh vọng, quyền lợi riêng tư, giải trừ cá nhân chủ nghiã …
2. SỢ HÃI VÀ LÝ TƯỞNG:
Một người có lý tưởng, có chân lý cuộc sống, tin tưởng tuyệt đối vào sự suy tư và hành động của mình là người không bao giờ biết sợ hãi dù ở trong hoàn cảnh bị tra tấn tù đày dù đối diện với cái chết hay vô số gian lao khác. Ngược lại, thiếu tin tưởng, con người chẳng khác gì con thuyền không lái trước biển khơi bão tố, do đó trở nên sợ hãi, khiếp đảm.
Theo danh y Tuệ Tĩnh: “Bệnh tình chí là do tình hướng vào cái gì đó, chí hướng vào tinh thần mà sinh bệnh.
Theo Y học phương Tây từ thời Hyppocrates (460 – 377 trước Công nguyên) đã quan tâm đến mối quan hệ mật thiết giữa tinh thần và thể chất của người bệnh. Hyppocrates là người đầu tiên sáng tạo ra nguyên lý: “Không phải chỉ chữa bệnh mà chữa cho cả người bệnh”.
Thất tình là phản ứng tâm lý có tính bản năng, nói chung không có hại đối với sức khỏe. Nhưng khi thất tình biến động quá kịch liệt hoặc kéo dài quá lâu, thì có thể gây nên bệnh tật. Thất tình gây bệnh, ngoài cường độ và thời gian tác động, còn phụ thuộc vào tính chất của từng loại tình chí:
– “Hỉ” là loại tình chí ít gây bệnh nhất
– “Nộ” gây bệnh tương đối nặng
– “Kinh” và “Khủng” gây bệnh nhanh nhất
– “Ưu” và “Tư” gây bệnh tương đối chậm nhưng khó chữa.
Trong bài này:
– Những người bị rét, hay đang ở trong cơn kinh hãi thường hay run rẩy, rên rỉ.
– Những người cảm lạnh thường hay hắt hơi.
Những câu chuyện về việc chữa bệnh TÌNH CHÍ
Sau đây là một số câu chuyện nói về cách chữa bệnh TÌNH CHÍ của các nhà y học thời trước:
1. Thời Xuân Thu, vua nước Tề vì quá lo nghĩ mà lâm bệnh, uống đủ thứ thuốc không giảm. Nghe nói có một thầy thuốc giỏi tên là Văn Chí, bèn cho người mời đến.
Sau khi khám bệnh cho vua xong, ông liền nói với Thái tử:
– Làm cho vua tức giận thì sẽ lành bệnh. Nếu đức vua có giết tôi thì nhờ Thái tử hết lòng cứu giúp cho.
Thái tử chấp nhận lời yêu cầu của Văn Chí, nói:
– Không can gì, xin thầy cứ mạnh dạn chữa trị.
Văn Chí xin vào yết kiến nhà vua. Ông đi ngang tàng, bước xéo bừa lên cả long sàng. Quả nhiên, vua đùng đùng nổi giận, hét to sai thủ hạ bắt ông đem xử trảm. Thái tử liền tới bên vua bày tỏ can ngăn. Không bao lâu sau, nhà vua khỏi bệnh.
– Đó là thuật của thầy thuốc Văn Chí: lấy giận để chữa bệnh do quá lo nghĩ của vua Tề: Tư thương tỳ, nộ thắng tư.
(Kinh nghiệm dân gian Việt Nam chúng ta khi chữa Nấc Cục; bằng cách chọc giận, khi giận lên người bệnh hết Nấc ngay lập tức)
2. Thần y Hoa Đà chữa một phú ông vì quá lo nghĩ mà lâm bệnh bằng cách viết đơn thuốc bằng những lời lẽ nhục mạ thậm tệ khiến cho bệnh nhân tức giận cực độ, mặt mày tái xanh, tay chân bủn rủn rồi sau đó bệnh tình thuyên giảm. Đó là thuật mà Hoa Đà học được ở cách của Văn Chí chữa bệnh cho vua Tề.
3. Ở tỉnh Thái Nguyên có ông Triệu Tri Tắc, từ lúc đậu tiến sĩ rồi vì quá vui mừng mà sinh bệnh, không ngồi dậy được. Gia đình mời danh y là Sào Thị đến xem mạch để chữa trị. Vừa xem mạch xong, Sào Thị không nói không rằng, chỉ chép miệng lắc đầu, tỏ vẻ bất lực, rồi rủ áo ra về, không kịp chào từ biệt. Triệu Tri Tắc thấy vậy lo sợ quá, khóc rống lên rồi gọi con cái đến bảo rằng:
– Thầy thuốc giỏi như Sào Thị mà không chữa nổi thì mạng của ta nguy quá rồi!
Chẳng ngờ mấy giờ sau đó, bệnh tình giảm dần rồi hết hẳn.
– Đó là thuật của danh y Sào Thị: lấy sự sợ hãi để chữa bệnh do quá vui mừng của ông Triệu Tri Tắc: Hỷ thương tâm, khủng thắng hỷ.
4. Đời Kim-Nguyên, danh y Trương Tùng Chính, tức Trương Tử Hòa, đã chữa cho viên quan Tư hầu ở Tức Thành lâm bệnh nặng sau khi nghe tin cha bị giặc giết, khóc thương quá độ đến nỗi ngất đi. Bệnh hơn một tháng, uống thuốc gì cũng không khỏi.
Khi Trương Tử Hòa đến khám bệnh, biết rõ sự tình nên đã tìm cách làm cho Tư hầu phải cười phá lên. Qua trận cười đó, bệnh giảm dần và 3 ngày sau thì hết bệnh, chẳng cần thuốc thang nào cả.
– Đó là thuật Hỉ thắng Ưu (Bi) của ông Tử Hòa.
5. Ông Chu Đan Khê, tức Chu Chấn Hanh, chữa cho một thiếu phụ vì thương nhớ chồng đi xa 2 năm chưa về mà ngã bệnh. Nằm li bì suốt ngày, không ăn uống nói năng gì. Ông bàn với gia đình tìm cách quở mắng thậm tệ rồi lại tát cho mấy cái, để lấy sự giận giải được cái uất kết trong lòng do lo nghĩ, nhớ nhung của thiếu phụ.
Sau đó lại làm cho nàng vui mừng, và nhờ đó mà khỏi bệnh.
6. Đời nhà Minh, có một người học trò thi đậu cử nhân, mừng quá mà phá lên cười và cứ cười hoài suốt đêm ngày, bỏ ăn bỏ ngủ, không sao cầm lại được. Người nhà đưa đến nhờ danh y Viên Thể Am chữa trị. Thể Am tìm cách làm cho người bệnh sợ hãi, bảo rằng bệnh nguy không chữa được, chỉ còn mươi ngày nữa là chết. Quả nhiên, sau đó một thời gian,người bệnh đã hồi phục.
– Đó là cách trị theo thuật khủng thắng hỷ.
Đông y quan niệm: những chức năng hoạt động của ngũ tạng (Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận) cùng với ngũ chí tương ứng (Nộ, Hỉ, Tư, Ưu, Khủng) tuân theo các quy luật tương sinh, tương khắc và chế hóa của ngũ hành (Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy). Do đó, khi chữa bệnh do thất tình bị rối loạn, nếu biết khéo vận dụng các quy luật đó, sẽ đem lại hiệu quả.
– Nộ thương Can, Bi thắng Nộ
– Hỉ thương Tâm, Khủng thắng Hỉ
– Tư thương Tỳ, Nộ thắng Tư
– Ưu thương Phế, Hỉ thắng Ưu
– Khủng thương Thận, Tư thắng Khủng…(Sợ hãi quá sẽ làm tổn thương tạng Thận, nhưng sự lo âu, tư lự sẽ ức chế được nỗi sợ hãi).
– Ở đây biểu hiện tình chí của Thận thủy khí “Khủng thương Thận” chính là: SỢ HÃI – RÊN RỈ – HẮT HƠI
CÁCH CHỮA “KHỦNG THƯƠNG THẬN” KHIẾN HAY SỢ HÃI – RÊN RỈ
PHƯƠNG THANG 1:
– Táo nhân (sao thơm) 20gr
– Long nhãn nhục 16gr
– Nhân sâm 12gr
– Thạch xương bồ 12gr
– Bách hợp 20gr
– Liên tâm (tâm sen) 12gr
– Trần bì 10gr
– Phục linh 12gr
– Phù tiểu mạch 30gr
– Chích cam thảo 08gr
– Lạc tiên (dây Nhãn lồng)16gr
Cách dùng: sắc uống
PHƯƠNG THANG 2:
Kèm mất ngủ, ngủ không sâu giấc, chập chờn thức giấc giữa đêm và không vào giấc lại được.
– Thục địa 12gr
– Táo nhân 16gr
– Phục thần 16gr
– Hoàng kỳ 12gr
– Phòng đảng sâm 16gr
– Đương quy đầu 12gr
– Mạch môn 16gr
– Bạch truật 12gr
– Liên tử (hạt sen) 16r
– Quế nhục 04gr
– Cam thảo 06gr
– Mộc hương 08gr
– Lạc tiên 16gr
Cách dùng: sắc uống
2 thang thuốc trên chủ yếu là chữa triệu chứng, cái chính là khi chữa Thận thuỷ khí suy vẫn là dùng bài Bát vị thang.
Ngoài ra, không quên chườm đá nóng:
– Vùng Gan giúp làm ấm toàn thân
– 2 huyệt Thận du để củng cố Thận thuỷ khí
– Tinh thần huyệt là Chí thất, giúp giải toả cái sợ (Khủng)
– 2 huyệt Dũng tuyền để dẫn hoả quy nguyên
Và nên kết hợp:
– Nhịn ăn cách khoảng 16:8
– Hớp không khí
– Dùng rượu Cooktail Ong Biển
– Bột chứa thành phần hổn hợp Momilactone A+B của Ong Biển
CHỮA CHỨNG CẢM LẠNH, HẮT HƠI
Cảm lạnh là bệnh phổ biến thường gặp trong cuộc sống của mỗi chúng ta, phổ biến nhất là do cơ thể chúng ta ko đủ ấm vì những lí do như mặc ko đủ ấm, tắm nước lanh, dầm mưa hoặc thay đổi thời tiết đột ngột từ nóng sang lạnh. Và với những người Thận thủy khí suy yếu, Y học cổ truyền phương Đông có nhiều cách chữa cảm lạnh rất hiệu quả:
ĐÁNH GIÓ:
* Tóc rối 1 nắm, gừng giã nát sao với rượu, tóc rối tẩm gừng rượu còn nóng, xát nhẹ trên da khi nào thấy da phớt hồng là được. Vị trí: Cột sống từ gáy cổ xuống thắt lưng, ở giữa và hai bên cột sống, từ giữa trán sang hai bên thái dương, gan lòng bàn tay và bàn chân, bụng và ngực.
* Cám gạo 1 bát con, rang thơm, bọc vào miếng vải mềm xát vào các vị trí như cách 1. Khi cám nguội lại rang nóng, xát đến khi da hồng thì thôi.
* Trứng gà luộc chín kỹ, bóc vỏ gói vào miếng vải mềm cùng với đồng bạc; cách xát làm như cách 1; nếu bị cảm khi bỏ ra thấy đồng bạc bị xám xịt.
* Dùng gừng rượu sao nóng hoặc xoa dầu nóng; lấy miệng bát có bờ nhẵn hoặc tiền bạc, cạo nhẹ ở 2 bên cột sống đến khi da nổi màu hồng. Nếu bị cảm nặng, vết cạo có các nốt lấm chấm hoặc vết máu bầm.
* Dùng củ ráy, đánh theo cột sống, nếu có bệnh sẽ không bị ngứa, còn ngứa thì không phải do cảm lạnh.
BÀI THUỐC UỐNG:
Bài 1:
Thành phần:
– Củ gấu (hương phụ) 12gr
– Lá Tía tô (Tô diệp) 12gr
– Vỏ quýt 08gr
– Cam thảo nam 12gr
– Gừng sống (Sinh khương) 3 lát
Các vị trên sắc uống ngày một thang, chia làm 2 lần.
Bài 2: HOẮC HƯƠNG CHÍNH KHÍ THANG
Thành phần:
– Hoắc hương 12gR
– Cát cánh 12gr
– Phục linh 12gr
– Hậu phác ( Khương chế) 10gr
– Tô diệp 12gr
– Bạch truật 12gr
– Bán hạ 08gr
– Bạch chỉ 10gr
– Đại phúc bì 10gr
– Trần bì 08hr
– Chích thảo 06gr
Sắc uống
Bài 3: CHÁO CẢM
– Gạo trắng 1 nắm
– Gạo nếp 1 nắm
– Hành 2 cây cắt nhỏ
– Lá tía tô 1 nắm cắt nhỏ
– Lá kinh giới 1 nắm
– Gia vị vừa đủ.
– Gạo nấu nhừ, nấu loãng vừa phải.
Cắt nhỏ hành, tía tô, kinh giới, lấy lòng đỏ trứng gà cho tất cả vào bát to, đổ cháo đang sôi vào trộn đều, ăn nóng.
XÔNG NƯỚC
Lá có tinh dầu giúp sát trùng đường hô hấp như:
– Lá chanh 1 nắm
– Lá bưởi 1nắm
– Lá sả 1 nắm
– Lá bạc hà 1 nắm
– Lá tía tô 1 nắm
– Lá Ngủ trảo 1 nắm
– Lá Hương nhu 1 nắm
Tùy theo dược liệu ở từng địa phương, có thể thay đổi các vị thuốc cho phù hợp.
* Dùng nồi to, đun nước sôi, bỏ các vị thuốc vào, lấy lá chuối bịt kín rồi đậy nắp vung lại, đun sôi 5 phút thì bắc ra.
* Bệnh nhân ngồi trên giường hoặc rải chiếu dưới đất, đặt nồi nước xông bên cạnh, dùng chăn mỏng trùm kín người, chỉ mặc đồ lót cho mồ hôi thoát ra.
* Khi xông thì chọc thủng vài lỗ lá chuối để cho hơi thoát ra.
* Nếu không có lá chuối thì mở nắp vung từ từ, mồ hôi ra đến đâu, lấy khăn khô lau sạch. Thời gian xông từ 5 đến 10 phút, khi bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và ra mồ hôi thì thôi. Xông xong lau khô mồ hôi, thay quần áo rồi ăn bát cháo nóng có hành, tía tô.
* Cách này dùng trong trường hợp cảm lạnh không ra mồ hôi.
* Không được áp dụng cho phụ nữ có thai, trẻ em dưới 15 tuổi, người già bị suy kiệt, bệnh nhân thiếu máu, tiêu chảy mất nước, rong kinh, rong huyết.
KINH NGHIỆM DÂN GIAN TRONG ĐIỀU TRỊ CẢM LẠNH HẮC HƠI QUANH NĂM SUỐT THÁNG
– Gạo 1 lon sửa bò
– Gừng sống 1 ký (giả nát)
– Đường thẻ vừa đủ
– Giai đoạn 1: Cho gạo vào nồi nấu theo kiểu cháo lỏng. Khi cháo nhừ thì bỏ gừng sống đã giả nát vào. Nấu thêm 10 phút nữa thì xong.
– Giai đoạn 2: Múc trong nồi ra một tô cháo gừng. Người bệnh cởi đồ ra, trùm mền (chăn) ăn cháo gừng với đường thẻ, ăn cho hết tô cháo thì mồ hôi cũng bắt đầu ra từ từ.
– Giai đoạn 3: Người bệnh vẫn ngồi nguyên trong mền. Cho cả nồi cháo gừng vào trong mền, dở nấp ra và dùng hơi nóng của cháo gừng xông.
Hơi nóng từ tô cháo gừng đã ăn, cùng nơi nóng từ nồi cháo gừng sẽ làm cho mồ hôi ra rất nhiều; mồ hôi ra nhơn nhớt như nhớt cá trê.
– Giai đoạn cuối: lau rửa sạch sẽ, mặc đồ và nằm nghĩ ít nhất là 30 phút….
Cháo gừng với đường thẻ, ăn nóng vừa an vừa xông với cháo gừng.
Chỉ cần ăn 1 lần là khỏi hẳn, cách 3 tháng sau ăn lại 1 lần nữa, rồi lại 6 tháng sau lặp lại.
BS Dư Quang Châu
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT
Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT
(Còn tiếp)