NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ ĐỘNG – TĨNH MẠCH

710 lượt xem

Ðặc điểm cấu trúc chức năng động mạch Động mạch là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu từ tim đến các cơ quan. Máu trong động mạch có lượng ô xy cao, ngoại trừ ở động mạch phổi và động mạch rốn. Hệ động mạch có tỉ lệ huyết áp […]

Ðặc điểm cấu trúc chức năng động mạch

Động mạch là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu từ tim đến các cơ quan. Máu trong động mạch có lượng ô xy cao, ngoại trừ ở động mạch phổi và động mạch rốn.

Hệ động mạch có tỉ lệ huyết áp cao hơn trong hệ tuần hoàn. Áp lực máu thay đổi từ cực đại trong quá trình tim co lại, gọi là áp lực tâm thu, đến cực tiểu-áp lực tâm trương-khi tim giãn và máu dồn về tim. Sự thay đổi áp lực trong động mạch tạo ra mạch động và có thể cảm nhận được nhịp đập này và nó phản ánh sự hoạt động của tim. Động mạch mang máu từ tim đến các tế bào, ngoại trừ động mạch phổi, nó mang máu đến phổi để ô xy hóa. Còn lại các động mạch mang máu giàu ô xy đến các cơ quan và tế bào cần ô xy.

Ðặc điểm cấu trúc chức năng tĩnh mạch (còn gọi là ven – tiếng Anh, tiếng Pháp: vein)

Hệ tĩnh mạch bắt nguồn từ mao mạch về đến tim, tổng thiết diện của cả hệ tĩnh mạch lớn hơn hệ động mạch. (Mỗi động mạch lớn thường có hai tĩnh mạch đi kèm). Ở một thời điểm nào đó, khoảng 65% thể tích máu toàn bộ được chứa trong tĩnh mạch so với 20% trong hệ thống động mạch.

Kết cấu ống tĩnh mạch có nhiều vòng, lớp ngoài cùng chủ yếu cấu tạo bằng colagen, không có các cơ như động mạch, nên các ống này có thể xẹp xuống khi dung lượng máu thấp và phồng lên khi ứ máu.

Ðộng lực máu trong tuần hoàn tĩnh mạch và các yếu tố giúp máu trở về tim:

Tốc độ máu trong tĩnh mạch lớn trung bình 10cm/ giây, chỉ bằng 1/4 ở động mạch chủ, còn ở tĩnh mạch nhỏ chỉ khoảng 0,6-1,4 cm/s, bằng 1/10 ở động mạch nhỏ. Lưu lượng tĩnh mạch tăng hay giảm tùy theo sự hoạt động hay nghỉ của tổ chức. Do máu trong tĩnh mạch có nhiều chất thải, nên đặc hơn, độ nhớt cao hơn so với máu ở động mạch. Trong điều kiện ấy mà áp suất hút của tim khá thấp, lại ngược chiều trọng trường, vậy yếu tố nào đã đưa máu “chảy ngược” từ chân về tim?

Yếu tố huyết áp do tim đẩy và hút

Huyết áp giảm dần từ động mạch qua mao mạch, đến tĩnh mạch huyết áp giảm rất nhiều, nên vai trò huyết áp đưa “máu bẩn” trở về tim chắc chắn không phải như ở động mạch. Trong thời kỳ tâm thất thu, áp suất tâm nhĩ giảm xuống đột ngột do van nhĩ-thất bị hạ xuống về phía mõm tim làm buồng nhĩ giãn rộng, tác dụng này làm hút máu từ tĩnh mạch trở về tâm nhĩ, nhưng lực hút này cũng chỉ cỡ dưới 15 mmHg.

Cử động hô hấp

Khi hít vào, cơ hoành hạ thấp xuống, các tạng trong bụng bị ép, áp suất trong bụng tăng lên và ép máu về tim. Đồng thời, khi hít vào, áp suất trong lồng ngực càng âm hơn (từ -2,5 mmHg đến –6 mmHg), áp suất âm này khiến cho áp suất tĩnh mạch trung ương dao động từ 6 mmHg khi thở ra đến gần 2 mmHg khi hít vào. Sự giảm áp suất này làm tăng lượng máu trở về tim phải.

Điều này thấy rõ: thở sâu sẽ tăng áp lực hút máu về tim.

Sức co cơ vân:

Khi cử động, sự co của các cơ xung quanh, ép vào tĩnh mạch, phối hợp với các van khiến cho máu chảy về tim.

Do đó sự vận cơ giúp máu về tim tốt hơn.

Van tĩnh mạch:

Hình a: Van giữ cho huyết lưu không bị bơm ngược hướng

Hình b: Khi van giãn, máu tự chảy xuống, gây phù

Trên đường đi của hệ tĩnh mạch có các van tĩnh mạch, có chức năng giống van tim (khoảng 4-5cm trên các ống tĩnh mạch có 1 van – đó là những nếp lớn trong thành tĩnh mạch, chỉ cho phép máu chảy một chiều về tim). Các van chủ yếu ở trong các tĩnh mạch chi. Khi cử động, sự co của các cơ xung quanh ép vào tĩnh mạch, phối hợp với các van khiến cho máu chảy về tim. Do đó sự vận cơ giúp máu về tim tốt hơn. Khi các van suy yếu, sẽ ứ máu ở tĩnh mạch gây phù.

Nhiệt độ: khi trời rét, nhiệt độ giảm làm co tĩnh mạch, nhiệt độ cao tĩnh mạch giãn ra (do đó chỗ nào giãn tĩnh mạch nên tránh tăng nhiệt).

Hệ bạch huyết

Nhiều người vẫn nghĩ là trong máu luôn có hồng cầu và bạch cầu, nên các loại động mạch, tĩnh mạch, mao mạch đều có 2 thành phần này. Về cơ bản thì đúng như thế, nhưng bên cạnh hệ tuần hoàn còn có một hệ bạch huyết riêng và chính điều này giải thích được cơ chế phòng vệ của cơ thể.

Bạch huyết là dịch trong suốt bao bọc các mô của cơ thể, giữ cân bằng chất lỏng, và loại bỏ vi khuẩn khỏi các mô. Bạch huyết thâm nhập hệ tuần hoàn qua các mạch bạch huyết.

Bạch huyết được vận chuyển từ các mô tới tĩnh mạch qua hệ thống mạch bạch huyết. Trong hệ thống đó, bạch huyết được lọc qua các cơ quan như lá lách, tuyến ức (thymus) và các hạch bạch huyết. Ở động vật có vú, bạch huyết được đẩy qua các mạch bạch huyết chủ yếu bởi hiệu ứng vận động của các cơ xung quanh mạch.

Sơ đồ hệ bạch huyết

Thành phần chủ yếu của bạch huyết là các bạch huyết bào (lymphocyte) và đại thực bào (macrophage). Hệ miễn dịch sử dụng các tế bào này để chống lại sự thâm nhập của các vi sinh vật ngoại lai. Tất cả các động vật đa bào đều phân biệt giữa các tế bào của chính mình và các vi sinh vật ngoại lai, chúng cố gắng trung hòa hoặc ăn các vi sinh vật ngoại lai. Các đại thực bào là các tế bào có nhiệm vụ bao vây và ăn sinh vật ngoại lai. Còn bạch huyết bào là các tế bào bạch cầu có nhiệm vụ trung hòa các vi sinh vật ngoại lai bằng hóa học.

Hạch bạch huyết hay hạch lympho là một trong vô số các cấu trúc trơn, hình bầu dục dẹp, rải rác dọc theo các mạch bạch huyết, là một phần của hệ bạch huyết. Các hạch bạch huyết có mặt ở khắp cơ thể, tập trung nhiều ở một số vùng như cổ, nách, bẹn. Hạch bạch huyết đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của hệ miễn dịch. Chúng chứa các tế bào bạch huyết và có chức năng làm bộ lọc hoặc bẫy giữ lại các phần tử ngoại lai, có thể bị viêm và sưng khi làm nhiệm vụ này.

Các hạch bạch huyết là nơi “đóng quân” của các bạch cầu và các đại thực bào

Các hạch bạch huyết cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh. Chúng nóng hoặc sưng lên trong những tình trạng khác nhau, từ nhẹ như viêm họng đến nguy hiểm như ung thư. Ở bệnh nhân ung thư, tình trạng của hạch bạch huyết đáng chú ý đến mức nó được dùng để xác định ung thư đang ở giai đoạn nào.

Trước đây, hệ thống bạch huyết chỉ được coi là một hệ thống dẫn lưu bình thường không đáng quan tâm, nhưng hiện nay, hệ thống tuần hoàn thứ hai của cơ thể này đang nổi lên như là một yếu tố quan trọng nhiều bệnh lý từ ung thư cho đến hen suyễn, và nó là thành phần sống còn của hệ miễn dịch thông thường. Theo như những kết quả từ khám phá gần đây, các nhà nghiên cứu đang cố gắng xem xét và can thiệp vào hoạt động của hệ bạch huyết nhằm giảm thiểu mức độ di căn của ung thư, tăng cường hiệu quả của Vaccine, hoặc chữa trị một số căn bệnh gây biến dạng và đau nhức ở hệ bạch huyết này.

Thật sự là hệ bạch huyết đóng vai trò như chốt chặn thứ hai đối với hệ tuần hoàn từ bao đời nay. Thế nhưng đặc tính này được khám phá lần đầu vào thập niên 1960, và nhanh chóng rơi vào quên lãng mãi đến 1990 và một lần nữa bị người ta bỏ quên cho mãi đến khoảng 10 năm gần đây.

Đầu thập niên 1990, Kari Alitalo, một nhà nghiên cứu ung thư ở Đại học Helsinki -Phần Lan bắt đầu nghiên cứu những protein tham gia quá trình tạo thành mạch máu mới. Những protein này, gọi là yếu tố tăng trưởng nội mạch – vascular endothelial growth factors gọi tắt là VEGF – kích thích sự tăng trưởng của các dòng tế bào nằm lọt trong mạch máu và nó cho phép những mạch

Mạng bạch huyết ở tay, nơi TCLT tác động máu mới nhú lên. Các khối u thường “đánh lừa” các dấu hiệu VEGF này khiến cho hệ thống mạch máu ưu ái nuôi nấng chúng giúp cho quá trình di căn diễn ra nhanh và mạnh hơn. Cũng như các nhà khoa học khác, Alitalo lập luận rằng nếu những dấu hiệu này hoặc các thụ thể của chúng bị khóa lại thì mạch máu có thể ngừng tăng trưởng và tế bào khối u vì thế mà bị bỏ đói dần dần cho tới chết.

Mãi đến năm 1999, khi David Jackson, một nhà sinh học ở Oxford, khám phá ra một protein có tên là LYVE-1, lúc này một market chuyên biệt cho hệ thống bạch huyết xuất hiện giúp quá trình nghiên cứu hệ thống bạch huyết bắt đầu đi vào quỹ đạo.

Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể dò tìm vai trò của hệ thống bạch huyết trong quá trình di căn của khối u ung thư. Nhiều khối u, như ung thư vú và khối u ác tính, lan truyền từ khối u gốc thông qua hệ thống bạch huyết tới những cơ quan khác; và điều tồi tệ sẽ xảy ra nếu các hạch bạch huyết tham gia vào quá trình di căn, điều này khiến cho quá trình chẩn đoán bệnh sẽ không có ý nghĩa. Trong phương pháp Thập Chỉ Liên Tâm, các tác động lên mao mạch và tĩnh mạch cũng đồng thời tác động lên mạch bạch huyết. Đây có thể là lý do quan trọng để giải thích việc chườm nóng gan đưa đến tăng cường hệ miễn dịch, từ đó đạt nhiều kết quả bất ngờ.