ỨNG DỤNG PHÁT KIẾN MỚI VỀ HẠT GẠO CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG MÁU

57 lượt xem

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CHẤT VI LƯỢNG ĐẮT GIÁ TỪ “NÚI VỎ TRẤU” Lần đầu tiên một nghiên cứu của các nhà khoa học người Việt đã tìm ra bốn hoạt chất có khả năng ức chế thực vật xâm lấn từ vỏ trấu gồm Momilactone A,B,E (MA,MB,ME) và 7-ketostigmasterol (7KS-có tác dụng bảo […]

  1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CHẤT VI LƯỢNG ĐẮT GIÁ TỪ “NÚI VỎ TRẤU”

Lần đầu tiên một nghiên cứu của các nhà khoa học người Việt đã tìm ra bốn hoạt chất có khả năng ức chế thực vật xâm lấn từ vỏ trấu gồm Momilactone A,B,E (MA,MB,ME) và 7-ketostigmasterol (7KS-có tác dụng bảo vệ tế bào đường ruột (Caco-2) và hệ miễn dịch. Momi tiếng Nhật nghĩa là cám gạo)

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế Plants của MDPI ngày 7/6/2019. Nhà khoa học Việt tìm ra chất ức chế cỏ dại là PGS Trần Đăng Xuân, Trưởng phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật và Hóa sinh (Đại học Hiroshima, Nhật Bản). Ý nghĩa của phát kiến này là các đồng lúa khắp thế giới bị cây cỏ lồng vực từng gây hại mùa màng ở quy mô đáng kể, bây giờ có giải pháp ức chế được cỏ lồng vực là một tin tốt.  Điều vui hơn là MA,MB,ME, 7KS trước đó nhóm nghiên cứu đã công bố 4 chất có tính năng ức chế bệnh tiểu đường, béo phì, và gút.

Phát kiến của PGS Trần Đăng Xuân và cộng sự trong năm 2018 đã phát triển phương pháp đo đạc và phát hiện MA và MB cực nhạy so với các phương pháp thông thường tại phòng thí nghiệm, cho phép đo hàm lượng MA và MB trong các bộ phận của cây lúa với hàm lượng thấp tới nano gram (1/1 tỷ gam). Điều đó cho phép phát hiện sự hiện diện của MA và MB trong gạo trắng ăn hàng ngày có hàm lượng 2.07 và 1.06 microgram/g trong gạo Nhật Bản.

Đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, cả bốn chất trong vỏ trấu được phân lập và chiết xuất bằng phương pháp sắc khí cột. Sau đó xác định cấu trúc của các hợp chất bằng kỹ thuật quang phổ. Sau khi xác định được tỷ lệ bốn hợp chất trong trấu, nhóm nghiên cứu tiếp tục kiểm tra khả năng ức chế của chúng đối với loại cỏ gây hại chính trong ruộng lúa nước trên khắp thế giới là lồng vực nước và vài loại cây xâm hại. Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện thí nghiệm để so sánh hoạt tính ức chế sinh trưởng của bốn hợp chất cho thấy, MA và MB có hoạt tính mạnh hơn ME và 7KS.

Chuyện hợp chất MA-MB có giá đắt đỏ như vậy vì rất hiếm phòng thí nghiệm thành công trong việc tách chiết. Cũng vì giá của nó quá đắt nên hiếm có phòng thí nghiệm nào đủ điều kiện tài chính để mua MA và MB, do đó các nghiên cứu sâu về hợp chất này cũng vắng bóng trên thế giới. Vì vậy sau khi tìm thấy hai hợp chất quý này trong gạo và trấu, PGS Trần Đăng Xuân và cộng sự tại phòng thí nghiệm Sinh lý Thực vật và Sinh hóa của Đại học Hiroshima đã ngày đêm chưng cất và tinh lọc. Từ 20 kg vỏ trấu, sau gần 3 tháng, khoảng 0,3gr MA (300 mg)được tinh chất và 0,2gr MB (200 mg chiếm khoảng 1/100 -150 nghìn trọng lượng vỏ trấu). Vậy là các kết quả khoa học đã có kết quả bắt đầu từ vài giọt nước tinh chất MA-MB, tuy rất ít, nhưng sẽ có ý nghĩa lâu dài.

Sau khi tách chiết thành công, các thí nghiệm sinh lý và sinh hóa, kiểm tra hoạt tính chống tiểu đường, chống béo phì và gút dựa trên các thí nghiệm in-vitro về ức chế hoạt động của các enzyme chính từ hợp chất này cũng được nhóm nghiên cứu thực hiện. Kết quả cho thấy cả MA và MB đều có hoạt tính ức chế hoạt tính cao vượt trội so với chất ức chế chuẩn như acarbose – chất được bán thương mại và sử dụng rộng rãi trong điều trị tiểu đường.

Hợp chất MA và MB cũng thể hiện hoạt tính sinh học và hóa học mạnh mẽ ở nồng độ phản ứng thấp hơn so với một hợp chất phenolics nổi tiếng là gallic acid. Hơn nữa, sự kết hợp của MA:MB theo tỷ lệ 4:1 cho kết quả ức chế tối ưu enzyme xanthine oxidase liên quan đến chống bệnh gút.

PGS Trần Đăng Xuân đưa ra kết luận: “MA và MB là các hợp chất tiềm năng chống tiểu đường mới, chống béo phì và gút tiềm năng thông qua khả năng ức chế hoạt động của các enzymes liên quan đến các bệnh này. Đây là những hoạt tính sinh học quan trọng, lần đầu tiên được nghiên cứu trên MA và MB”.

Dựa vào kết quả nghiên cứu in vitro, PGS Trần Đăng Xuân và cộng sự khẳng định việc ăn một lượng cám gạo nhất định hàng ngày có thể giúp giảm nguy cơ bệnh gút, béo phì và tiểu đường. Kết luận này thay đổi quan niệm thông thường rằng ăn cám gạo làm đẩy mạnh nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cho con người.

Trước đó, từ năm 1973, nhà khoa học người Nhật Tadahiro Kato và các cộng sự từng tìm thấy hai hợp chất quý này trong vỏ trấu. Suốt hơn 40 năm qua, các nhà khoa học trên thế giới đều tin rằng MA và MB là hợp chất thứ cấp (Secondary metabolite) do lúa sinh ra để ức chế hoạt động của thực vật cạnh tranh với cây lúa.

Tuy nhiên các nghiên cứu của PGS Trần Đăng Xuân sau đó được công bố đã làm thay đổi quan niệm này. Đó là công bố trong năm 2007 (MA và MB có khả năng chống oxi hóa, ức chế sinh khuẩn và chống khuẩn trên tạp chí Journal of Plant Interactions – hạng Q2 chuẩn của ISI) và năm 2016 (MA và MB đóng vai trò trong khả năng chịu mặn và chịu hạn của lúa mạnh mẽ hơn nhiều so với khả năng ức chế sinh trưởng thực vật như nhà khoa học Nhật Bản Tadahiro Kato và nhiều nhà khoa học trên thế giới khác đã từng công bố trong vòng hơn 40 năm qua).

Công bố này gây sự chú ý lớn trong giới khoa học về sinh lý thực vật trên thế giới, đặc biệt trên cây lúa. PGS Trần Đăng Xuân cũng khẳng định, hai hợp chất MA và MB còn có khả năng kì diệu hơn nữa.

Nhiều năm qua trên thế giới chỉ có vài phòng thí nghiệm có thể tinh chế MA và MB nhưng với số lượng tính trên milligram (một phần nghìn gram) với quá trình tinh lọc vô cùng phức tạp. Các phương pháp trước đây chỉ tách chiết được số lượng MA và MB từ máy sắc khí lỏng (HPLC), sắc khí giấy (Paper Chromatography), hoặc sắc khí cột (Column Chromatograpy) với hiệu suất thấp và độ tinh chế không cao.

PGS Trần Đăng Xuân cho biết, trong hai năm từ 2016 và 2017, ông và nhóm nghiên cứu bắt đầu tìm cách nghiên cứu tinh lọc hai hợp chất MA và MB từ vỏ trấu của lúa. Do chúng có cấu trúc phức tạp và khá tương tự nhau, việc tách chiết và tinh chế riêng biệt hai chất rất khó khăn.

Ông cùng với các nhà khoa học đến từ Ấn Độ, các nghiên cứu sinh Tiến sĩ người Việt Nam tại phòng thí nghiệm Sinh lý Thực vật và Sinh Hóa tại Đại học Hiroshima, may mắn sử dụng kinh nghiệm của Ấn Độ để phát triển riêng phương pháp tinh lọc MA và MB từ vỏ trấu sử dụng nhiệt độ, áp suất từ các dung môi thông dụng trong phòng thí nghiệm. Phương pháp này cho phép chiết xuất hai hợp chất với độ tinh khiết cao hơn và lượng tinh thu nhiều hơn.

Hợp chất MA và MB lần đầu tiên được nhà khoa học Nhật Bản Tadahiro Kato tìm thấy trong vỏ trấu của lúa vào năm 1973. Đến năm 2019 nhà khoa học người Việt – PGS Trần Đăng Xuân, Trưởng phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật và Hóa sinh, Đại học Hiroshima (Nhật Bản) và cộng sự tách chiết thành công từ gạo và trấu. Từ 20 kg vỏ trấu, sau gần 3 tháng, khoảng 300 mg MA và 200 mg MB (chiếm khoảng 1/100 -150 nghìn trọng lượng vỏ trấu) được tách chiết.

  1. CON ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU TẠO GIỐNG GẠO VIỆT NAM CÓ HÀM LƯỢNG MA,MB CAO

Các kết quả của Ts.Xuân được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế (29/1/2019) chỉ sau một tuần, nhiều công ty tại châu Âu, Mỹ, và Nhật Bản đã đề xuất đầu tư và hợp tác nghiên cứu về hai hợp chất MA và MB, tạo các sản phẩm từ gạo có khả năng giảm thiểu tiểu đường, bệnh gút và béo phì, cũng như việc đặt mua hai hợp chất MA và MB.

PGS. TS.Trần Đăng Xuân là nhà khoa học người Việt đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Hiện ông hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu về nhân giống cây trồng, bộ gene, khoa học cỏ dại, sản xuất nông nghiệp bền vững, hóa học hữu cơ, hóa học phân tích, năng lượng sinh khối…

Ông có hơn 110 công trình đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế trong danh mục ISI và 130 bài trong danh mục Scopus, với điểm H-index là 24.

Ông cho biết, hiện ông và cộng sự muốn tập trung sâu hơn nữa vào việc nghiên cứu các hoạt tính hóa sinh, y và dược của MA và MB như chống các loại ung thư, bệnh mất trí nhớ… và triển khai các thí nghiệm in vivo trên chuột và thí nghiệm lâm sàng, nhằm tìm hiểu rõ vai trò thực sự của hai hợp chất quý gấp nhiều lần vàng trong cây lúa. PGS Xuân nói về lý do chưa hợp tác với các đơn vị đặt lời mời:

“Các đề xuất trên chúng tôi chưa trả lời. Việc bán lại bản quyền cho các công ty Nhật Bản, Mỹ hoặc châu Âu có thể mang lại lợi nhuận cao cho bản thân mình và các cộng sự, nhưng giá trị của khoa học mang lại cho nhân loại thì vô giá và sống mãi với thời gian”.

Ts. Xuân tiết lộ sẽ kết hợp với một số công ty của Nhật Bản và các cơ quan nghiên cứu Việt Nam như Viện di truyền Nông nghiệp để sản xuất ra các giống lúa có hàm lượng MA và MB cao gấp nhiều lần thông thường, nhằm tạo ra sản phẩm gạo Made in Việt Nam nhưng có thể được bán với giá cao trong và ngoài nước với các tính năng giảm thiểu các bệnh nan y đang xảy ra tại Việt Nam và thế giới.

Ông tin tưởng, sau vài năm nữa, những sản phẩm thương mại đầu tiên từ cây lúa Việt Nam có chứa hàm lượng cao hai hợp chất MA và MB sẽ được người Việt Nam, Nhật Bản, châu Âu và Mỹ biết đến. PGS Trần Đăng Xuân hy vọng công trình sẽ góp phần nâng cao vị thế lúa gạo của Việt Nam trên thế giới, và sớm có thể tạo nên các sản phẩm là niềm tự hào của người Việt.

 

  1. TỪ PHÁT KIẾN CỦA TS XUÂN, NHÌN LẠI VÀ NHÌN KỸ VỀ HẠT GẠO

Cơm là món ăn chính trong bữa cơm gia đình của người Việt. Hạt gạo của người Việt được ví như hạt ngọc. Chính vì vậy mà gạo rất quen thuộc với chúng ta từ thuở bé. Nhưng ít khi chúng ta để ý tới thành phần chất dinh dưỡng trong gạo

Thành phần hạt gạo có nhiều điều hay hơn chúng ta tưởng:

Cấu tạo hạt gạo gạo tuy nhỏ bé nhưng đem lại giá trị dinh dưỡng cao, thành phần gồm:

  • Vỏ trấu (chiếm 20% tổng khối lượng hạt gạo)
  • Mầm (1-2%)
  • Cám (7-8%)
  • Hạt gạo (70%)

Hàm lượng protein gạo dao động 7 – 8,5% tùy theo giống gạo và điều kiện bảo quản.

Trong protein gạo có glutelin, anbumin và globulin nhưng không có prolamin nên bột gạo không dẻo như bột mì. Protein gạo có hệ số hấp thu lên tới 96,5 – 98% nhưng hệ số sử dụng chỉ đạt khoảng 58%. Protein gạo nghèo lysin nên đây là yếu tố hạn chế trong số các acid amin của gạo. Vì vậy khi ăn nên phối hợp với thức ăn động vật và đậu đỗ để đảm bảo tính cân đối giữa các acid amin trong khẩu phần.

Glucid ở gạo chiếm 70 – 80%, nên đã có vai trò cung cấp tinh bột cho dân ta từ 4000 năm. Điều chúng ta cần nhìn lại, đó là các thành phần vi lượng có ích trong gạo.

Sử dụng cám gạo để tăng sức đề kháng

  • Cám gạo hay cám bột, cám xay xát (rice bran) chính là phần bao phủ ngoài hạt gạo (nằm giữa lớp trấu và hạt gạo).
  • Cám gạo là sản phẩm phụ sau quá trình xay xát và chế biến gạo, được thu hồi dưới hai dạng là cám khô và cám ướt.
  • Cám gạo có rất nhiều Vitamin, khoáng chất, axit fulit và nhiều các chất hữu cơ có lợi cho làn da, chống lão hóa, nuôi dưỡng làn da trẻ khỏe.
  • Màng cám gạo chứa nhiều Protein, lipit, các loại enzym, khoáng chất vi lượng: Vitamin E, Vitamin B1, Vitamin B2, Vitamin B6, Niacin, Biotin…
  • Cám gạo thường được sử dụng để cho gia súc, gia cầm ăn.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng, việc làm đó thật phung phí vì cám gạo có giá trị dinh dưỡng cao và là một nguồn giàu protein, chất béo, khoáng chất, vi lượng…

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học bang Colorado (Mỹ) cho rằng, cám gạo có thể có lợi cho sức khoẻ và dinh dưỡng của con người. GS.Elizabeth Ryan, tác giả của nghiên cứu này cho hay:

Một khẩu phần cám gạo (khoảng 28gr) cung cấp hơn một nửa nhu cầu các vitamin quan trọng mỗi ngày của một người, bao gồm thiamine, niacin và vitamin B6. Cám gạo cũng là một nguồn chất xơ dễ tìm, giá rẻ và là một nguồn lipid lành mạnh khi được sử dụng dưới dạng dầu ăn”.

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng một công nghệ được gọi là Chuyển hóa thức ăn (Foodomics)-kỹ thuật sinh hóa phức tạp, thông qua phương pháp khối phổ (Mass spectrometry)- để xác định và đo lường sự xuất hiện của nhiều phân tử khác nhau có trong thực phẩm.

Sau khi đánh giá 3 giống lúa của Mỹ đã từng được sử dụng trong các thử nghiệm chế độ ăn uống của con người, các nhà nghiên cứu đã tìm ra 453 chất chuyển hóa, trong đó có: 65 chất có thể có tiềm năng về sức khoẻ và dược liệu cùng với 16 chất chưa từng được báo cáo.

 

  1. Ryan cho hay: “Chúng tôi đã khảo sát các acid amin, vitamin, đồng nhân tố (cofactor – phần chất đặc biệt kết hợp với enzyme để một số phản ứng có thể xảy ra) và các chất chuyển hóa thứ cấp (Secondary metabolites) có thể tìm thấy trong cám gạo. Chúng tôi nghi ngờ rằng, chúng góp phần vào các lợi ích về dược và dinh dưỡng cho con người. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy rằng các đồng nhân tố, vitamin và acid amin chiếm gần 50% tổng lượng phân tử nhỏ”.

Bên cạnh đó, trong nhiều nghiên cứu trước đây, một số hợp chất được xác định trong cám gạo đã thể hiện tính chống viêm, chống vi khuẩn và chống tăng huyết áp. Cám gạo cũng có hàm lượng protein lên tới 12 – 15%, đây là tín hiệu đáng mừng vì chúng có thể giúp giải quyết tình trạng suy dinh dưỡng.

Theo PGS. TS Trần Đăng Xuân: phát hiện 2 hợp chất này sẽ tạo ra bước ngoặt lớn trong giới khoa học về sinh lý thực vật trên thế giới, đặc biệt là trên cây lúa. Nghiên cứu này sẽ giúp nâng tầm vị thế giá trị thương hiệu lúa Việt Nam trên thị trường Quốc tế. Đồng thời là nguồn nguyên liệu quý mở ra những giải pháp mới cho ngành y học Việt Nam và Thế giới, trong việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân đái tháo đường, bệnh Gout, bệnh béo phì và một số căn bệnh nguy hiểm khác.

Ts.Xuân cho rằng việc làm rõ cơ chế tác động chất MB lên tế bào ung thư do gây thiếu oxy khiến chúng tự hủy diệt sẽ giúp các nhà khoa học thuận lợi hơn khi nghiên cứu tiếp theo với các loại ung thư khác. Hiện Ts.Xuân đang cùng với Bác sĩ – Tiến sĩ Đàm Duy Thiên tiếp tục tìm hiểu hoạt tính và cơ chế ức hoạt nhiều loại ung thư khác nhau trên thí nghiệm lâm sàng tại Đại học Hiroshima, Nhật Bản. Ông và nhóm nghiên cứu cũng đang phát triển các giống lúa dược liệu giàu hàm lượng MA và MB theo phương pháp thông thường và canh tác hữu cơ ở Việt Nam.

Ngoài ra, Cám lụa hữu cơ của công ty Ong Biển (từ Quảng Trị) còn chứa rất nhiều dinh dưỡng có tác dụng tham gia vào quá trình phục hồi tế bào, tái sinh tế bào da, kích thích sự thay mới lớp biểu bì, đẩy nhanh quá trình lành da. Vitamin nhóm B có trong Cám lụa hữu cơ Ong Biển thúc đẩy quá trình chữa lành các tổn thương tế bào da, kích thích sản sinh collagen, hạn chế sản sinh sắc tố melanin giúp da  hạn chế các tổn thương do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường.

 

Cám gạo làm mỹ phẩm Thiên nhiên cao cấp, như vậy có thể tác dụng thải độc.

Bí quyết làm đẹp da của phụ nữ Nhật Bản từ 4.000 năm vẫn dựa vào cám gạo. Công việc của các Geisha Nhật Bản xưa nay đòi hỏi phải trang điểm với lớp phấn dày đặc trên mặt, không được có khiếm khuyết, làn da của Geisha luôn phải mịn màng và nhẵn nhụi, không được nhão, không được xuất hiện dù chỉ một nốt đen. Vì vậy, một chế độ chăm sóc da đặc biệt là rất cần thiết để các Geisha giữ được vẻ đẹp tự nhiên và tươi trẻ, để họ có thể giữ được công việc của mình.

Ngay nước gạo cũng là công thức chăm sóc da thời bấy giờ của các Geisha. Họ còn dùng gạo giã nhỏ hàng ngày như một thói quen để chăm sóc sắc đẹp. Không chỉ ở Nhật mà từ xa xưa, phụ nữ Châu Á nói chung cũng đã biết dùng tới nước vo gạo và gạo giã nhỏ ra để chăm sóc da.

Tại sao nước vo gạo và gạo giã nhỏ lại có tác dụng làm đẹp da hiệu quả như vậy? Nước vo gạo và gạo giã nhỏ có chứa một phần cám gạo. Bản thân cám gạo chứa rất nhiều dinh dưỡng, vì vậy có nhiều tác dụng trong việc chăm sóc da đẹp tự nhiên.

Đặc biệt trong tinh dầu cám gạo, chất gama oryzanol là một hoạt chất có tác dụng chống axit hóa, ức chế sắc tố melanin có tác dụng phòng chống đen, sạm da. Cám gạo thích hợp mọi loại da, đặc biệt tốt cho da nhạy cảm, và phù hợp với làn da của chị em phụ nữ châu Á nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng.

Chính vì những tác dụng tuyệt vời và an toàn từ cám gạo tự nhiên nên ngày càng nhiều chị em dùng cám gạo thay vì sử dụng các loại mỹ phẩm đắt tiền khác. Dùng cám gạo nguyên chất pha chế ra nước tắm, mặt nạ, kem làm trắng da … sẽ cho hiệu quả làm đẹp bền lâu.

 

Những công dụng làm đẹp da của cám gạo:

  • Làm trắng mịn da hiệu quả: Vitamin B1, khoáng chất và các chất vi lượng làm da trắng sáng và mịn màng hơn.
  • Chống nhờn: Rửa mặt bằng nước cám gạo mỗi ngày sẽ giúp da giảm ít bị nhờn nữa.
  • Chống lão hóa da: Vitamin E trong cám gạo giúp chống lại sự lão hóa tế bào da, giúp tái sinh làn da một cách nhẹ nhàng.
  • Chống lại các tia UV có hại, bảo vệ da: Trước khi ra ngoài, sử dụng nước cám gạo sẽ giúp làn da chống được các tia cực tím hiệu quả.
  • Trị mụn: Dùng cám gạo cho da mặt có tác dụng giảm mụn, đặc biệt là mụn đầu đen và mụn cám vốn rất phổ biến ở cả nam và nữ.
  • Tẩy da chết: Cám gạo có khả năng lột tẩy hết các tế bào chết nhanh chóng mà không cần dùng thếm bất cứ một mỹ phẩm nào khác.
  • Trị viêm lỗ chân lông: Tắm cám gạo 2 lần/ tuần là liệu pháp chữa viêm lỗ chân lông hiệu quả đã được kiểm chứng bởi rất nhiều người đã khỏi bệnh.
  • Trị nám, chống nám da: Thành phần Lipid trong cám gạo có tác dụng ngăn cản hoạt động bài tiết sắc tố Melamin có tác dụng chống nám da rất tốt.
  • Nuôi dưỡng da: Các chất chứa trong cám gạo có tác dụng chăm sóc và nuôi dưỡng làn da giúp làn da trở nên khỏe đẹp hồng hào.
  • Làm nước tẩy trang: Nước cám gạo hoàn toàn có thể sử dụng thay nước tẩy trang, dùng nước cám gạo tẩy trang trong thời gian dài sẽ giúp da trắng sáng, mịn màng.
  • Chống lão hóa da: Nếu bạn là người mong muốn kéo dài tuổi thanh xuân hãy thường xuyên dùng nước cám gạo lọc rửa tay chân, cám gạo có tác dụng làm da tươi bóng, đồng thời có khả năng cản trở sự lão hóa của da.

 

Ngay cả khi bạn không có vấn đề gì về da, thì cám gạo cũng vẫn nên là mỹ phẩm thiên nhiên cần có để chăm sóc da được mịn màng khỏe mạnh hơn. Theo Đông Y, da là một phần của Phế, có tác dụng thải độc khá hiệu quả. Ví dụ: người lao động chân tay ra mồ hôi nhiều thường khỏe mạnh hơn các công chức ngồi trong phòng điều hòa.

Sử dụng đơn giản, giá rất rẻ lại an toàn tuyệt đối, cám gạo còn tốt cho mái tóc nữa. Nước cám gạo lọc để chua có thể sử dụng làm gội đầu hằng ngày có tác dụng bảo vệ tóc, làm tóc óng mượt hơn, cung cấp các dưỡng chất cần thiết nuôi dưỡng tóc phát triển khỏe mạnh.

 

  1. BÀN VỀ CHẤT LƯỢNG MÁU.

 Thực nghiệm của Bộ môn Thập chỉ Liên tâm về chất lượng máu

Từ năm 1998 đến nay, Bộ môn Y mao mạch- Thập Chỉ Liên Tâm đã có một số thực hành về cải thiện chất lượng máu. Sau hơn 20 năm thực nghiệm, chúng tôi cũng thu thập được một số dữ liệu cần thiết.

Số liệu có thể rất nhiều, nhưng việc phân loại và phân tích kỹ không phải chuyện dễ, vì trong máu có thể trên 4200 chất ( chỉ riêng các axit amin đã vài trăm, mà mỗi axit amin lại cần vài chục Enzyme phục vụ).

Bộ môn TCLT hiện không đủ khả năng nghiên cứu như các Đại học, chúng tôi chỉ có thể thống kê sơ bộ một số người có chiều sâu tham gia vào đề tài này.

 

Nghĩ về giải pháp cải thiện chất lượng máu ‘nhanh hơn-nhiều hơn -tốt hơn-rẻ hơn’

Với công bố của Ts.Xuân, các chất MA-MB có tác dụng hỗ trợ người bị tiểu đường, béo phì, gout. Cả 3 nhóm bệnh này có nhiều điểm khác nhau, nhưng khi cả 3 nhóm bệnh chung một giải pháp có kết quả thì có thể dự đoán là MA-MB có tác dụng cải thiện chất lượng máu. Momilactone B còn có tác dụng ức chế các tế bào ung thư bằng cách tăng tốc độ tự hủy diệt các tế bào do thiếu oxy. Nếu chỉ ăn cơm mà giảm các thứ bệnh kể trên thì ‘’ai cũng ham’’, nhưng để có hiệu quả tổng hợp thì cũng không phải vài tuần mà xong.

Theo thống kê của Bộ y tế, Việt Nam hiện có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (có tới 69,9% không biết mình bị bệnh, dự báo sẽ tăng lên 6,1 triệu vào năm 2040).

Việc tìm ra giống gạo có chứa hai Hợp Chất MA và MB rất ý nghĩa trong việc điều trị và phòng ngừa căn bệnh này, vì MA và MB giúp ức chế ức chế hoạt động của các enzyme chính có trong các bệnh này gấp nhiều lần so với các cách điều trị thông thường.

Tại lễ công bố phát kiến MA-MB vào tháng 2/2019, PGS Xuân chia sẻ: “Nhiều hoạt tính quý của hai hợp chất này đang được chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và đã đăng trên nhiều tạp chí sinh học quốc tế. Chúng tôi cũng phát hiện sự có mặt của hai hợp chất này trên gạo hữu cơ ở Quảng trị”.

Điều đặc biệt là hai hợp chất có trong gạo hữu cơ Quảng Trị này còn quý và đắt hơn vàng gấp 30.000 lần. Bởi, theo kết quả bước đầu, hợp chất Momilactone A bằng 100, hợp chất Momilactone B bằng 50. Hiện các loại lúa gạo đặc sản mà trường đại học Hiroshima đã từng kiểm chứng của 2 hợp chất trên chỉ được 1%.

 

  1. ỨNG DỤNG CHẤT VI LƯỢNG CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG MÁU

Phát kiến của PGS Xuân dù mới tách chiết 0,3rg MA mà 0,2mg MB, chỉ là một con số thí nghiệm cực kỳ khiêm tốn, nhưng có thể dẫn tới một hướng đi tích cực: sử dụng các chất vi lượng ở cấp phân tử để tác động mạnh mẽ đến cải thiện chất lượng máu một cách an toàn cao, chi phí thấp. 

Các nghiên cứu quốc tế

Cơ chế phân tử mà Momilactone B (MB) có tác dụng ức chế đối với các tế bào ung thư vú được các nhà khoa học Hàn Quốc công bố năm 2008 trên tạp chí quốc tế nghiên cứu về ung thư (International Journal of Oncology).

Với thí nghiệm do Youn-Hee Young (Đại học KonKuk, Hàn Quốc) và đồng nghiệp thực hiện, chất MB chiết xuất từ vỏ gạo được dùng tác động lên tế bào ung thư vú. Khi đó các tế bào apoptotis tăng lên trong điều kiện thiếu oxy (apoptotis là thuật ngữ được sử dụng trong sinh học phân tử, nghĩa là quá trình tự hủy diệt của tế bào theo chương trình có sẵn trong gene).

Kết quả này chỉ ra rằng, MB ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư vú, điều chỉnh biểu hiện của các gene liên quan đến apoptosis. Từ nghiên cứu này, các nhà khoa học kết luận MB làm tăng tốc độ apoptosis gây thiếu oxy của tế bào ung thư vú ở người và có thể đại diện cho một tác nhân hóa trị liệu hoặc điều trị hiệu quả chống lại ung thư vú.

 

Nghĩ về giải Nobel Y sinh 2019

Đáng chú ý nhất của phát kiến của Ts.Xuân có liên quan là Nobel Y sinh 2019 cho ba nhà khoa học William Kaelin, Gregg Semenza (người Mỹ) và Peter Ratcliffe (người Anh) về ‘Cơ chế cảm ứng oxy”

TS Lê Đức Dũng – Phòng thí nghiệm nghiên cứu ung thư máu và ghép tế bào gốc, BV ĐH Wuerzburg (Đức) – bàn về tính ứng dụng của công trình đoạt giải 2019: 

Cụ thể, các nhà khoa học đã phát hiện ra các protein (cũng như xác định được các gen của những protein này) giúp cho cơ thể chúng ta thích ứng với tình trạng thiếu hụt oxy khi nồng độ của nó thấp hơn bình thường bằng cách sản xuất ra nhiều hồng cầu hoặc hình thành nhiều mạch máu hơn để giúp cơ thể hoặc các cơ quan có thể nhận đủ oxy. Một khi hiểu được các cơ chế cơ bản, chúng ta sẽ có thể áp dụng vào việc chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh. 

Lấy ví dụ, trong các hoạt động hằng ngày có những lúc cơ thể chúng ta cần nhiều oxy hơn mức bình thường. Hoặc có những lúc chấn thương thì một bộ phận nào đấy được cung cấp máu ít hơn. Những thay đổi đó buộc cơ thể chúng ta phải có cơ chế để thích nghi.

Những người thường xuyên tập thể thao thì cơ thể họ thích nghi bằng cách sản xuất ra nhiều hồng cầu hơn, hay sẽ hình thành nhiều mạch máu hơn để cung cấp đủ oxy cho các cơ quan khi vận động mạnh. Điều đó cũng đúng với những người sống ở độ cao lớn, máu của họ thường có nhiều hồng cầu hơn.

Cơ chế thích nghi với nồng độ oxy đã được nghiên cứu khá sâu và bắt đầu có những ứng dụng trong phát triển thuốc trị bệnh. Các công trình nghiên cứu của ba nhà khoa học này rất xứng đáng được vinh danh, nó cũng khích lệ lĩnh vực nghiên cứu cơ bản trong sinh học.

Từ các công trình này chúng ta hiểu được cơ chế mà cơ thể sản xuất ra nhiều hồng cầu hơn. Cụ thể, chúng ta đã biết hormone erythropoietin (EPO) được sản xuất từ thận kích thích sản xuất hồng cầu. Các nhà khoa học đã tìm ra gen điều khiển EPO, từ đó chúng ta có thể phát triển những thuốc tăng cường sự tiết EPO, hoặc can thiệp vào những điểm khác trong cơ chế, giúp cơ thể sản xuất thêm hồng cầu, giúp trị bệnh thiếu máu.

Với bệnh ung thư, các tế bào ung thư thường kích thích tạo ra thêm nhiều mạch máu giúp tế bào ung thư phát triển nhanh. Cũng nhờ hiểu biết từ các công trình nghiên cứu này, chúng ta có thể tìm cách ngăn chặn sự hình thành mạch máu mới trong ung thư. Ngoài ra, cách tăng cường sản xuất hồng cầu và mạch máu cũng có thể giúp điều trị các bệnh về tim mạch.

 

Vài thực nghiệm ban đầu ở Bộ môn Y mao mạch-Thập Chỉ Liên Tâm

Từ khi biết các thông tin về phát kiến của Ts.Xuân, chúng tôi đã triển khai một vài khóa học thực hành theo chương trình ‘’Bữa ăn 16/8’’.

Bản chất bữa ăn 16/8 không phải là “giải pháp nhịn ăn’’ như một số người nghĩ, mà là điều chỉnh chế độ ăn sao cho tất cả các tế bào trong cơ thể  buộc phải ‘’hoạt động tích cực hơn’’ bằng cách mỗi tế bào ‘’tự kiến tạo và làm mới mình’’ theo như kết quả của giải Nobel-Y sinh năm 2016 của nhà khoa học Nhật Yoshinori Ohsumi, người khám phá các cơ chế phân tách và tái tạo tế bào.

Đây là thành tựu khám phá ra ‘’cơ chế tự thực’’, một quá trình cơ bản trong tế bào. Thông báo từ Ủy ban Nobel cho biết: “Các khám phá của Ohsumi đã đưa đến những hình mẫu mới trong việc hiểu về cách các tế bào tái tạo các thành phần của mình. Những khám phá của ông ấy đã mở đường dẫn đến sự hiểu biết của nhiều quá trình sinh lý, chẳng hạn như trong việc tế bào thích ứng với cái đói hoặc phản ứng ứng với sự viêm nhiễm”.

 

Phương án tham gia chương trình cải thiện chất lượng máu đến cuối năm 2021.

( Nên chuẩn bị một chương trình dài hạn để các học viên có điều kiện lên kế hoạch tham gia nhiều kỳ)

Một kế hoạch dài hạn với mục tiêu có kết quả ngắn hạn trong 6 tháng.

Từ phát kiến của PGS Trần Đăng Xuân, Bộ môn môn Y mao mạch-TCLT đã thảo luận với công ty Ong Biển-chuyên về sản xuất gạo hữu cơ- để hình thành một nhóm giải pháp trắc nghiệm với những người quan tâm đến 3 nhóm bệnh đã nói ở trên.

Phát kiến khoa học là một điều có vai trò rất quan trọng, nhưng thực nghiệm phát kiến đó trên quy mô rộng hơn cũng không dễ. Với con số chiết xuất MA-MB  hiện chỉ có 0,5gr (tức là chỉ cỡ  một vài hạt ngô hay hạt đậu nành thôi), chúng ta chưa thể mơ đến ứng dụng đại trà ở cái chất ‘hơn vàng 30.000 lần’ như báo chí đánh bóng.

Nhưng việc thực nghiệm lại có thể dựa vào MA-MB đang có trong thiên nhiên, nên việc tìm hiểu và đánh giá định lượng MA-MB là rất quan trọng với một công trình lớn.

Chúng tôi sẽ nghiên cứu một chương trình hợp tác với PGS Trần Đăng Xuân và công ty Ong Biển để từng bước có những kết quả hữu ích.

Vài kế hoạch dài hạn với mục tiêu có kết quả ngắn hạn trong 12 -18 tháng

Trên thực tế, thời gian của một phát minh có thể vài năm, việc ứng dụng phát minh cũng vậy, nhưng kết quả được cộng đồng khoa học và ngành Y công nhận phải cỡ 10 năm.

Chúng ta mới bắt đầu, cần phải nhanh chóng có vai trò thể hiện được hiệu quả. Bộ môn Y mao mạch-TCLT sẽ hợp tác với những người quan tâm đề tài này để cùng nhau thực nghiệm và phát triển có kết quả như mong đợi.

Việc hình thành kế hoạch dài hạn vẫn nên bắt đầu từ một kế hoạch 6 tháng như đã nói ở phần trên với:

– Cocktail Ong Biển

– Cám gạo Ong Biển

 

BS Dư Quang Châu

Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT

Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT